Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Sao không?


Sao em không lần chuỗi?
Những lúc trời gió mưa,
Khi đêm về tăm tối,
Khi lá rụng vườn trưa. 
 
Sao em không lần chuỗi?
Khi trời mới rạng đông,
Khi sương mai ngọt bùi,
Tỏa ngát trên ruộng đồng. 
Sao em không lần chuỗi?
Cảm tạ Mẹ nhân lành
Ơn Mẹ như mưa tưới,
Hồn em cánh đồng xanh. 
 
Sao không lần chuỗi?
Sao không lần chuỗi?
Bước đường em đi tới,
Lần chuỗi nhé em ơi! 
 
Sao em không lần chuỗi?
Mái tóc thề chấm vai,
Bâng khâng ngày dong duổi
Nhung nhớ bóng hình ai. 
 
Sao em không lần chuỗi?
Khi lặng ngắm chiều buông,
Trong cô đơn ngậm ngùi,
Lệ đắng chảy vào hồn.
 
Sao em không lần chuỗi?
Cảm tạ Mẹ nhân lành
Ơn Mẹ như mưa tưới,
Hồn em cánh đồng xanh.
 
Sao không lần chuỗi?
Khi trái gió trở trời,
Em mong manh yếu đuối,
Đến cùng Mẹ em ơi.

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Từ người mẫu trở thành ni cô

Người mẫu Kohinoor ngày ấy và sư cô Losang Dolma hôm nay
modelNcelebrityDOTblogspotDOTcomKOHINOORsingh (36)
Tôi còn nhớ đã gặp Kohinoor Singh đúng một năm trước đây khi cô ta còn là một người mẫu đương thời ở Nepal với một bề ngoài thật thu hút và sang trọng, giống như những người mẫu khác. Sự tương phản hôm nay là một kinh ngạc lớn, vì nhìn cô thật giản dị và sau một vài trao đổi qua lại, sự điềm tĩnh, sự khiêm nhường và cách nhìn về đời sống của cô làm tôi rất khâm phục.
Lần này tôi gặp cô với một con người mới, Ni cô Losang Dolma. Ngoài hình dáng bên ngoài, tôi không tìm thấy gì khác biệt trong phong cách và tài năng. Đúng, bây giờ cô trầm tĩnh hơn và nghiêm trang với một khuôn mặt tươi vui hơn bao giờ hết. Nhưng đó được hiểu là vì cô đã bắt tay vào một cuộc hành trình tâm linh mà ước muốn của cô là được giác ngộ. Tôi cũng như bao nhiêu người khác tò mò muốn biết về sự thay đổi trong cuộc sống của cô. Tôi xin phép được hỏi cô một vài câu hỏi và cô đồng ý trả lời ngay.
Sau đây là một vài đoạn được trích ra từ cuộc phỏng vấn.
kohinoor2

- Cô đã từng là người mẫu nổi tiếng hàng đầu của Nepal. Cô từng được mọi người yêu chuộng từ sân khấu thời trang cho đến thương trường quảng cáo và thu hình âm nhạc và cô còn là người điều khiển chương trình cho những chương trình truyền hình. Tại sao cô lại có một sự thay đổi bất ngờ như vậy?
- Mọi người đều chú ý tới sự thay đổi bất ngờ này vì họ luôn luôn thấy bên ngoài của tôi như là một người mẫu. Họ không biết tôi như là một con người. Đối với tôi, không có gì thay đổi cả vì tôi vẫn luôn luôn như thế. Người mẫu là nghề nghiệp của tôi và bây giờ tôi đã từ bỏ để đi tới con đường riêng của tôi. Thật là hiển nhiên cho mọi người thấy rằng bước đi này của tôi là một sự thay đổi lớn nhưng tôi không cảm thấy có gì khác biệt.
- Khi không có sự khác biệt theo ý kiến và sự cảm nhận của cô, tại sao cô nghĩ là cần phải thay đổi trong y phục?
- Y phục của tôi là kỷ luật. Giống như trường học có đồng phục để nhắc nhở học sinh về luật lệ của trường và bạn nên ở trong kỷ luật đó, y phục của tôi giúp tôi gần gũi hơn trong trách nhiệm là trở thành người tốt cho xã hội. Nếu tôi không làm được gì tốt, tôi cũng không nên làm gì xấu.
- Cô định nghĩa con người Kohinoor Singh như thế nào?
- Tôi là một phần của tất cả. Tôi giống như một người bình thường với quan niệm và ý kiến riêng. Với vật chất là sự tối cần thiết, chúng ta dường như quên đi rằng tất cả chúng ta đều có một sự cảm nhận tương tự nhau. Cái tâm linh bất diệt trong mỗi chúng ta đều giống nhau.
- Trong thời giai làm người mẫu, sự hào nhoáng và nịnh hót có lôi cuốn cô không?
- Hoàn toàn không. Với tôi, người mẫu chỉ là một công việc. Nó không bao giờ làm cho tôi kích thích khi mọi người ngưỡng mộ nhan sắc của tôi bởi vì tôi biết họ chỉ ngưỡng mộ hình ảnh bên ngoài của tôi và không biết được con người bên trong tôi. Mọi người có quan niệm khác nhau về một người mẫu và người đó phải vật lộn rất nhiều với quan niệm tiêu cực như trong một xã hội bảo thủ của chúng ta. Những quan niệm này làm tôi chán nản.
- Cô có ý định trở thành ni cô như thế nào?
- Vào thuở ấu thời khi tôi đi tản bộ ở chùa Swayambu, Kathmandu, tôi luôn chú ý đến một nữ tu sĩ thường hay ngồi thiền. Cô ta luôn luôn trầm lặng và tươi cười. Chúng tôi luôn luôn thấy cô ấy trong y phục tu sĩ và vì thế không có gì khó khăn cho tôi khi tôi nhắm mắt lại và hình dung về hình ảnh của cô. Và với ý nghĩ này luôn làm tôi mê say. Gần đây khi tôi đến thăm chùa Swayambu, một cái gì đó đã xảy ra và tôi cảm thấy dễ chịu và thanh thản. Lúc đó tôi nhận thấy rằng nhân duyên đã đến để tôi lo về cuộc sống tâm linh và bày tỏ được con người thật của tôi. Trở thành một ni cô chỉ là một giai đoạn trong cuộc sống của tôi. Tôi học hỏi đạo Phật. Định mệnh an bài cho tôi học hỏi và giác ngộ trong cộng đồng này.
- Xin tiếp tục
- Hiện tại tôi rất là vui, tôi chắc chắn rằng nếu tôi làm một việc gì đó tôi sẽ luôn luôn làm được tốt đẹp. Tôi muốn đi thăm viện dưỡng lão. Mặc dù tôi không có gì để cho họ, tôi có thể ngồi với họ, chia sẻ những nỗi đau và nụ cười với họ.
- Cô còn rất trẻ và đang ở trong lứa tuổi của những ham muốn, cám dỗ vật chất, cô dường như đã rời bỏ được chúng. Cô có sẵn sàng để đối phó với những ngăn trở và chướng ngại mà cô sẽ gặp phải hay không?
- Có. Tôi đã đi đến quyết định này sau khi suy nghĩ rất nhiều và bây giờ tôi sẵn sàng đương đầu với mọi việc, ngay cả đói và khát. Ngay cả bây giờ tôi không ăn hay thậm chí bảo mọi người rằng tôi nhịn đói cho tới khi tôi được cho thức ăn. Tôi tin rằng chính những ước muốn sinh ra sự mong cầu và dẫn đến rối loạn cùng tàn phá. Để có được niềm an lạc và vui vẻ, một người phải hài lòng với những gì mình có và tôi sẽ theo con đường này.
- Cha mẹ và bạn bè của cô phản ứng ra sao về sự quyết định này của cô?
- Mới đầu thì họ sửng sốt nhưng sau đó khi họ nhận thức được rằng tôi tiến đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, thì họ giúp tôi tận tình.
- Cô có muốn nói gì với giới trẻ không?
- Mọi người dễ dàng bị lôi cuốn vào sự vui thú hoặc buồn chán mà mọi thứ đều rất ngắn ngủi. Cái mà bất diệt là bạn và thể tính của bạn. Một người nên học để chấp nhận mọi phương diện của đời sống và sẽ gặt hái được niềm vui thật sự.
Một nhà văn đã từng viết, “Chúng ta, mọi người đều tò mò về thế giới bên ngoài nhưng tại sao không dành một phút nào để tìm hiểu con người bên trong và những đòi hỏi riêng tư của chúng ta?”. Để biết được chính mình thì khó hơn nhiều là biết được người khác. Kohinoor đã theo cuộc hành trình để nhận biết con người bên trong cô, đồng thời cắt đi sợi dây thử thách của vật chất chung quanh cô. Nhất định đây là cuộc hành trình đầy chông gai nhất cho một người đã lên tới đài danh vọng. Nhóm Cyber Nepal hy vọng cô sẽ thành công trên chuyến đi và trở thành một tấm gương sáng cho mọi người. Chúc cô mọi sự tốt đẹp, Kohinoor!
Kohinoor Singh, một người mẫu nổi tiếng ở Nepal. Cô lôi cuốn chúng ta qua những tấm hình nóng bỏng trên hàng tá băng nhạc và quảng cáo. Không thắc mắc chi cô ta rất đẹp, rất nóng bỏng, nhưng mặt khác của Kohinoor, chỉ được biết bởi những người thân của cô. Ít ai biết Kohinoor còn có biệt tài viết hay, giao tiếp giỏi với quần chúng và cô còn là một ca sĩ tuyệt vời. Trong một buổi chụp ảnh cho Cyber Nepal, cô đã làm chúng tôi kinh ngạc về sự chuyên nghiệp, với một kiểu đứng và diễn tả, chúng tôi chỉ cần chụp mà không cần phải chỉ dẫn gì thêm cho cô.
Diệu Anh dịch

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

Sơ Thùy - nữ tu dòng Kín

Đêm nay, trời mới tối mà trăng đã lên cao, mở cửa sổ tu phòng nhìn ra vườn mía của đan viện, ánh trăng bàng bạc mênh mang đưa sơ Thùy trở về vùng ký ức tươi đẹp và đầy yêu thương ấy…

Tiếng guitar bập bùng bên ánh lửa trại, mùi khoai lang và bắp nướng thơm lựng, người thiếu nữ nghiêng mình bên thùng đàn, gảy nhẹ những nốt trầm bổng. Mái tóc thề ngang lưng, bay bay trong gió. Đó là đêm lửa trại cuối cùng của nàng với anh em bạn bè mình, những tình thân đã gắn bó bao năm qua, như một phần thân thương nhất của cuộc đời nàng. Đêm nay, người thiếu nữ ấy sẽ đàn hết mình, hát hết mình, cười hết mình để sáng sớm hôm sau, nàng sẽ lên đường nhập dòng Kín. Cảm xúc dâng trào, một đôi lần nàng mím chặt môi để kìm nén dòng nước mắt. Biệt ly nào mà chẳng đau thương, cho dù là những biệt ly vì một lý tưởng cao đẹp hơn. Ôi Chúa ơi! Chưa chia tay mà đã tiếc nhớ! Nàng thầm thỉ: “Vâng, chỉ có mình Ngài là có thể đòi hỏi ở con nhiều đến như vậy!”

Thấm thoát đã Tám năm tròn kể từ ngày đó. Sơ Thùy lặng lẽ mỉm cười, tựa hẳn mình vào thành cửa sổ. Một đôi chim bay vút qua vườn mía rồi hướng thẳng về khu đất thánh mất hút. Trong vườn đan viện, có nhiều loài chim mà sơ không biết tên, chúng sống tự do trên mái vòng nhà thờ, trên những cây hồng, cây cóc già cỗi và trên nóc tu phòng của các đan nữ. Tiếng hót của chúng không du dương hay thánh thót cách đặc biệt, nhưng chỉ cần nhìn thấy chúng bay nhảy tự do khắp nơi trong vườn nhà, cũng làm sơ cảm nhận cuộc sống thật đẹp! Nhìn lại cuộc đời mình,
“lạy Chúa, phải chăng con cũng như con chim nhỏ vô danh, không có gì nổi trội như những loài chim ca sỹ, nhưng con ở đây, sống yêu thương trong từng hơi thở, từng ánh nhìn, từng bước đi… điều đó làm vui mắt Chúa. Và con tin rằng, với Chúa, vậy là đủ. Con cảm tạ Người” Nghĩ tới đó, nước mắt sơ lăn dài trên đôi gò má.

Ngày còn ở ngoài đời, người thiếu nữ ấy rất năng động, vui tính và lạc quan. Nàng thường là “linh hồn” của những cuộc vui! Cười nhiều nhất, nói nhiều nhất. Có lẽ vì khá được lòng người đời, nên sự nghiệp của nàng cũng tiến triển nhanh. Lớp đàn anh quý mến, lớp đàn em nể phục. Tham vọng của nàng là trở thành nữ doanh nhân xuất sắc, tài năng của nàng không chỉ được khẳng định ở đất nước quê hương nàng, mà phải mang đẳng cấp quốc tế. Và nàng tin tưởng vào kế hoạch của mình. Sự nghiệp thuận lợi như diều gặp gió. Các mối quan hệ với những nhân vật “quan trọng”, với cơ hội kinh doanh ngày càng nhiều, càng rộng. Bằng đôi mắt tinh tường và sự sáng tạo bẩm sinh, nàng nhìn thấy cơ hội dành cho mình ở khắp nơi. Nhưng cuộc sống luôn có những bất ngờ mà chính đương sự cũng không tài nào hiểu nổi. Một đêm vắng, nàng thức rất khuya, cặm cụi bên máy tính viết kế hoạch kinh doanh, nàng tự hỏi lòng:

- Nếu có một điều điên rồ nhất mà mình muốn thực hiện trong cuộc đời, thì đó sẽ là gì?
- Trở thành nữ tu dòng Kín Carmel ( OCD)

Câu trả lời tuôn ra trong tâm trí nàng một cách đột ngột, đến nỗi nàng khựng lại vì ngạc nhiên. Rồi sau đó… bật cười! Ha ha ha… thật điên rồ!

Ngày này qua ngày khác, vì muốn thành công trong cuộc đời, nên nàng tự tìm hiểu bản thân mình với những điểm mạnh, điểm yếu, những khuynh hướng, ước mơ, kỳ vọng… không lẽ nào việc trở thành nữ tu lại là điều mà nàng khao khát nhất! Nếu không muốn nói đó là việc hoang đường và … không thể tưởng tượng! Nhưng, từ đêm đó trở đi, tâm hồn nàng dường như bất ổn. Thỉnh thoảng, nàng nhìn về đời tu và thấy thật đẹp. Kế hoạch kinh doanh vẫn dở dang. Suốt một tuần thức khuya để viết nhưng không thể hoàn thành. Một đêm, sau khi đọc đi đọc lại những kế hoạch kinh doanh mình từng viết và đã thực hiện, nàng ngủ thiếp đi bên bàn phím, trong giấc mơ, nàng nghe thấy vọng lên từ sâu thẳm cõi lòng mình một giọng nói:
 “Một ngày nào đó, mình sẽ không viết kế hoạch kinh doanh nữa, mà sẽ viết kế hoạch cộng tác với Chúa trong việc cứu giúp các linh hồn”. Khi thức dậy, nàng cảm nhận một sự bình an sâu thẳm, êm đềm. Nàng biết rằng, dự tính cho tương lai có thể sẽ thay đổi. Vâng, và đã thật sự thay đổi. Thiên Chúa đã có những dự định trên nàng từ rất lâu, trước khi nàng tự lập kế hoạch cho cuộc đời mình. 
Sơ Thùy lại mỉm cười hạnh phúc, từ ngày sống trong đan viện này, dường như lúc nào trên khuôn mặt thánh thiện ấy, cũng điểm một nụ cười. Có lẽ đó là nét son của tất cả chị em đang sống ở đây. Cảm nghiệm tình yêu Chúa, và tình yêu thương của chị em trong nhà, mà những ngày đầu Sơ đã viết một bài thơ nhỏ tặng Mẹ bề trên:
Con vào đan viện đã một tuần
Xa đời phù phiếm những truân chuyên
Sáng – Trưa – Chiều – Tối say kinh nguyện
Suốt ngày chỉ nghĩ chuyện yêu thương

Đan Viện Huế rộng vườn sau trước
Thềm Nội Cấm ngạt ngào hương hoa
Đây mật ngọt ngào từ trời cao
Đây sữa yêu thương tình Tỉ - Mụi

Ai hỏi gian trần nơi đâu sướng
Con nhẹ nhàng chỉ lối họ đi
Này nhé, Carmel tình với tình
Mời bạn đến đây ta cùng say.

Tiếng chuông báo hiệu giờ giải lao chung của cộng đoàn vang lên, cắt ngang dòng suy nghĩ của sơ Thùy. Sơ vội vàng khép cửa sổ và rời tu phòng. Đêm nay trăng đẹp quá, có lẽ cả nhà sẽ cùng ngồi chơi ở giữa sân Nội Cấm, dưới bóng cây thánh giá. “Mình sẽ kể chuyện cười gì cho chị em nghe đây?” Sơ tự hỏi khi đi băng qua dãy hành lang dài dẫn đến sân…


Cecile Liễu
http://thanhcavietnam.org/

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Phỏng vấn Thiên Chúa

Tôi mơ thấy mình được gặp và phỏng vấn Thiên Chúa.
“Vậy con muốn phỏng vấn Ta sao?”

“Vâng, lạy Chúa, nếu Ngài có thời gian.”

“Thời gian của Ta thì vô tận; vậy con muốn hỏi Ta điều gì đây?”

“Điều gì làm cho Ngài ngạc nhiên nhất về loài người?”


Và Chúa trả lời rằng…
“Con người quá băn khoăn lo lắng về tương lai, mà lãng quên hiện tại,
vì thế họ không sống trong hiện tại cũng chẳng phải cho tương lai.

"Họ sống như thể không bao giờ phải chết
và chết như thể chưa từng được sống.

"Họ chán ngán tuổi ấu thơ –
họ vội vàng lớn lên và ước mong tuổi thơ trở lại.

"Họ tổn hao sức khỏe để kiếm tiền
rồi lại phải mất tiền để phục hồi sức khỏe.”

Thiên Chúa cầm lấy tay tôi trong thinh lặng chốc lát,
và tôi hỏi tiếp: “Là một người cha, Ngài muốn con cái học những bài học nào về cuộc đời?”

Chúa mỉm cười trả lời:

"Hãy học biết rằng:

"Không ai có thể buộc người khác yêu mình.
Điều họ có thể làm là trở nên đáng yêu.

"Điều quí giá nhất không phải là cái họ có,
nhưng là người mà họ có trong cuộc đời.


"So sánh mình với tha nhân là điều không tốt.


"Người giàu không phải là kẻ có nhiều nhất,
nhưng là người cần ít nhất.

"Chỉ mất một vài giây có thể làm tổn thương sâu xa đối với người thân yêu,
nhưng lại phải tốn nhiều năm mới hàn gắn được vết thương đó.

"Học tha thứ bằng cách tập tha thứ.

"Nhớ rằng còn có ai đó yêu bạn,
nhưng lại không biết cách nào diễn tả nỗi lòng mình.

"Tiền bạc có thể mua được mọi thứ …
ngoại trừ hạnh phúc!!!

"Hai người có thể cùng nhìn một sự vật,
nhưng lại thấy nó theo hai cách khác nhau.

"Sẽ không bao giờ đủ khi được người khác tha thứ,
mà chính họ phải biết tha thứ cho bản thân mình.

"Và hãy học biết rằng Ta luôn hiện diện ở đây – mãi mãi.”

Tác giả: vô danh
Người dịch: Phạm Quang Long


------------------------


An interview with God

I dreamt I had an interview with God. "Come in," God said. "So, you would like to interview Me?"
"If you have the time," I said.
God smiled and said: "My time is eternity and is enough to do everything; what questions do you have in mind to ask me?"
"What surprises you most about mankind?"
God answered:
  • "That they get bored of being children, are in a rush to grow up, and then long to be children again.
  • That they lose their health to make money and then lose their money to restore their health.
  • That by thinking anxiously about the future, they forget the present, such that they live neither for the present nor the future.
  • That they live as if they will never die, and they die as if they had never lived…"
God’s hands took mine and we were silent for a while and then I asked…"As a parent, what are some of life’s lessons you want your children to learn?"
God replied with a smile:
  • "To learn that they cannot make anyone love them. What they can do is to let themselves be loved.
  • To learn that what is most valuable is not what they have in their lives, but who they have in their lives.
  • To learn that it is not good to compare themselves to others. All will be judged individually on their own merits, not as a group on a comparison basis!
  • To learn that a rich person is not the one who has the most, but is one who needs the least.
  • To learn that it only takes a few seconds to open profound wounds in persons we love, and that it takes many years to heal them.
  • To learn to forgive by practicing forgiveness.
  • To learn that there are persons that love them dearly, but simply do not know how to express or show their feelings.
  • To learn that money can buy everything but happiness.
  • To learn that two people can look at the same thing and see it totally differently.
  • To learn that a true friend is someone who knows everything about them…and likes them anyway.
  • To learn that it is not always enough that they be forgiven by others, but that they have to forgive themselves."
I sat there for a while enjoying the moment. I thanked Him for his time and for all that He has done for me and my family, and He replied, "Anytime. I’m here 24 hours a day. All you have to do is ask for me, and I’ll answer."

People will forget what you said.
People will forget what you did,
but people will never forget
how you made them feel.

~ Source Unknown ~

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Về ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo

LTS: Cha Raniero Cantalamessa, thần học gia Phủ Giáo Hoàng trong bài nhận định liên quan đến bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần này đã đề cập đến vấn đề ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo như sau:

Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta 



Cha Raniero Cantalamessa, thần học gia Phủ Giáo Hoàng
Thánh Gioan, một trong các tông đồ, thấy một người không trong nhóm các môn đệ nhân danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ liền cấm người này làm thế. Khi ông thuật lại điều này với Chúa Giêsu, Chúa phán với ông rằng “Đừng ngăn cản người ta …vì ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9:39, 40).

Đây là chủ đề có một tầm quan trọng hiện nay. Chúng ta nghĩ thế nào về những người ngoại, những người ăn ở nhân lành và có những dấu chỉ của thần khí, mặc dù không tin nơi Đức Kitô và không thuộc về Giáo Hội. Họ có thể được cứu rỗi không?

Thần học đã luôn nhìn nhận khả năng, theo đó, Thiên Chúa có thể ban ơn cứu độ cho một số người theo những cách thức bên ngoài những cách thức thông thường là có đức tin nơi Đức Kitô, chịu phép rửa tội và là thành viên của Giáo Hội. 

Xác tín này đã được củng cố thêm trong thời đại tân tiến này, sau các khám phá địa lý và những tiến bộ trong khả năng truyền thông giữa các dân tộc khiến cho cần thiết phải ghi nhận rằng có vô số những con người, mà không phải lỗi tại họ, đã không hề được nghe lời công bố Tin Mừng, hay nghe trong một cách thế không phù hợp, từ những người đi chinh phục đất mới hay những kẻ thực dân lừa đảo, đến mức khó có thể chấp nhận được. 

Công Đồng Vaticanô II dạy rằng “Thánh Thần, trong một cách thế chỉ mình Chúa biết, ban cho mọi người khả năng được liên kết với mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, và do đó, được cứu rỗi” ["Gaudium et Spes – Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng" số. 22]. 

Đức tin Kitô Giáo của chúng ta đã thay đổi chăng? Không, chừng nào chúng ta tiếp tục tin vào hai điều này: Thứ nhất, Chúa Giêsu là, một cách khách quan và chân thật, đấng trung gian và đấng cứu độ duy nhất của toàn thể loài người, và rằng những ai không biết Ngài, nếu họ được cứu rỗi, đã được cứu rỗi nhờ vào Ngài và vào cái chết cứu độ của Ngài. Thứ hai, là những ai, dù không thuộc vào Giáo Hội hữu hình, nhưng có “ý hướng” khách quan về Giáo Hội, hình thành một Giáo Hội rộng lớn hơn mà chỉ có Chúa biết.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dường như đòi hỏi hai điều từ những người “ngoại”: họ không “chống” lại Ngài, nghĩa là họ không tích cực chống lại đức tin và các giá trị của đức tin, chẳng hạn, họ không tự nguyện đặt mình chống lại Thiên Chúa. 

Thứ hai, nếu họ không thể phụng sự và yêu mến Thiên Chúa, tối thiểu, họ phụng sự và yêu mến hình ảnh của Ngài, là con người, đặc biệt, những người đang cần giúp đỡ. Thật vậy, đoạn Tin Mừng tiếp tục nói về những người “ngoại” với những lời sau: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.

Tuy nhiên, sau khi minh xác về tín lý, tôi tin cũng thực cần thiết để sửa đổi một số sai lầm khác: thái độ nội tâm của chúng ta, tâm lý của chúng ta như những tín hữu. Ta có thể hiểu, nhưng không thể chia sẻ, mâu thuẫn khó che đậy của một số tín hữu khi thấy đặc quyền liên quan đến đức tin vào Chúa Kitô và địa vị thành viên trong Giáo Hội của mình sụp đổ. Người ta nói: “Vậy thì là một Kitô hữu tốt có ích gì cơ chứ?”.

Trái lại, chúng ta nên vui mừng vô biên trước những khai mở mới này của thần học Công Giáo. Biết rằng anh chị em bên ngoài Giáo Hội cũng có cơ may được cứu rỗi thì còn có gì có sức giải thoát và thuyết phục về lòng quảng đại và ý chí vô biên của Thiên Chúa hơn là lời này “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2:4). Chúng ta hãy biến ao ước của Môsê thành ước vọng của chính chúng ta như đã được ghi trong bài đọc thứ Nhất Chúa Nhật tuần này: “Phải chi ĐỨC CHÚA ban Thần Khí trên toàn dân của Người!”. (Ds 11:29).

Biết như thế liệu chúng ta có nên để mọi người yên trong xác tín của họ và ngừng truyền bá đức tin nơi Chúa Kitô vì người ta cũng có thể được cứu rỗi bằng những con đường khác mà? Dĩ nhiên là không.

Nhưng điều mà chúng ta nên làm là nhấn mạnh đến lý do tích cực hơn là lý do tiêu cực. Lý do tiêu cực là thế này: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi vì ai không tin vào Ngài sẽ bị kết án muôn đời”; lý do tích cực là thế này: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi vì thật là tuyệt vời để được tin nơi Ngài, được biết Ngài, để được có Ngài kề bên như đấng cứu độ trong cuộc sống và trong giờ chết”.

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Tản mạn về việc nên thánh

Một cuộc thăm dò dư luận mới đây trên mạng internet đưa ra một cái nhìn không mấy khả quan về Kitô giáo khởi đầu ngàn năm thứ ba này. Có một xu hướng đáng báo động đối với người tín hữu Chúa Kitô: đó là khuynh hướng đánh mất sự thánh thiêng, lối sống xa rời tinh thần Tin mừng, lãng tránh không đề cập đến Thiên Chúa trong cuộc sống hằng ngày của những người tự nhận mình là kẻ tin vào Đức Giêsu Kitô. Trong bối cảnh đó, thật là ý nghĩa đối với chúng ta khi cùng nhau suy nghĩ về việc nên thánh.

Thế nào là sự thánh thiện?

Thánh thiện là một thuật ngữ loại suy mà nghĩa đầu tiên dùng để chỉ sự toàn thiện tuyệt đối hay sự thánh thiêng của Thiên Chúa. Thứ đến, người ta còn dùng thuật ngữ này để chỉ những thụ tạo chia sẻ sự thánh thiêng của Người. Theo nghĩa này, tất cả những ai ở trong tình trạng ân sủng thì được gọi là “thánh”. Nó còn được dùng để chỉ những gì được dành riêng cho Thiên Chúa, như nước thánh, thánh đường, thánh nhạc, đời thánh hiến… Sau cùng, thánh thiện còn là phẩm tính của những người mà cuộc sống họ hoàn toàn hoà hợp với đức tin.

Khi nói về các thánh nhân, điều trước tiên chúng ta nghĩ đến họ là những con người hoàn hảo. Nhưng thực tế lại không hẳn như thế: Các thánh cũng là những kẻ tội lỗi như chúng ta, nhưng biết chỗi dậy khi vấp ngã, và họ ý thức rằng mình cần được tha thứ. Nên thánh hay trở thành con cái Thiên Chúa là phó thác cho Thiên Chúa và để cho Người trở thành Thiên Chúa trong và qua chúng ta. Sự thánh thiện thực sự không thuộc về chúng ta; chính Chúa Giêsu biến đổi chúng ta cho đến khi chúng ta giống như Người. Phần đóng góp của chúng ta là cộng tác với Người và để cho Người tự do nhào nặn theo ý mình.

Các mối phúc trình bày cho chúng ta chân dung của một vị thánh là như thế nào. Thánh nhân là người không quá khích, người ước mong một thế giới công bình và sẵn sàng làm hết sức mình để đạt được điều đó, ngay cả khi bị ngược đãi hay bị loại trừ. Một vị thánh đồng thời là người nhân từ, đầy yêu thương, nhạy cảm với nỗi khổ đau của tha nhân. Và trên hết thánh nhân là người thuộc về Thiên Chúa, như trường hợp của ngôn sứ Êlisa hay thánh Biển Đức …

Đặc tính của sự thánh thiện

Có thể làm một phép so sánh với tình trạng hạnh phúc, để nói về những đặc tính của sự thánh thiện. Cũng giống như khi bạn đang sống trong hạnh phúc, thì bạn không nghĩ đến hạnh phúc; bởi vì ngay khi bạn ý thức về sự hạnh phúc của mình thì bạn không còn hạnh phúc nữa. Hạnh phúc thật không thể được tạo ra và không thể trắc nghiệm được, vì nó nằm ngoài lãnh vực của ý thức.

Sự thánh thiện cũng vậy. Ngay khi bạn ý thức về sự thánh thiện của mình, thì sự thánh thiện ấy bị hư hoại và méo mó. Tay trái bạn không biết hành vi tay phải đang làm là tốt lành hay đáng công. Bạn chỉ làm vì việc ấy xem ra tự nhiên phải làm như vậy. Dường như tất cả các nhân đức mà bạn có thể nhìn thấy nơi mình không phải là nhân đức gì cả, nhưng là điều mà bạn đã tạo ra và khôn lanh vun đắp, rồi cưỡng đặt vào bản thân mình. Nếu đó là nhân đức thật có lẽ bạn đã vui hưởng nó một cách trọn vẹn, và cảm nhận nó một cách tự nhiên đến độ bạn không hề nghĩ đó là nhân đức gì cả. Chúng ta cứ nhìn những đứa trẻ, chúng đâu có ý thức về sự ngây thơ vô tội của mình, nhưng chúng lại được Chúa Giêsu coi là mẫu gương cho tất cả chúng ta: “Nếu các ngươi không nên giống trẻ thơ thì sẽ chẳng được vào nước Trời”. Vậy đặc tính đầu tiên của sự thánh thiện là đương sự không tự ý thức được.
    
Đặc tính thứ hai là tính phi nỗ lực. Nỗ lực có thể làm thay đổi lối sống, chứ không thay đổi con người của bạn. Giống như việc nỗ lực có thể đưa thức ăn vào miệng, nhưng không thể tạo ra sự ngon miệng; nó có thể giữ bạn trên giường, mà không thể tạo ra giấc ngủ; nó có thể ép bạn thốt ra một lời khen ngợi, nhưng không thể tạo ra sự thán phục tận thâm tâm; thì cũng vậy, nỗ lực có thể thực hiện những hành vi phục vụ, nhưng không thể tạo ra tình yêu hay sự thánh thiện.
    
Nỗ lực chính là sự khôn lanh của cái tôi. Nó thúc đẩy bạn tìm cách tôn vinh bản thân, chứ không phải để trở thành điều Thiên Chúa muốn về bạn. Nó đi tìm những phương pháp, kỹ thuật mà sản xuất ra những con người mệnh danh là thánh thiện, nhưng khô cằn, cứng nhắc, máy móc, vô hồn và bất nhẫn với người khác cũng như với chính bản thân mình. Loại người “thánh thiện” kiểu ấy là những con người bạo lực, đối lập với chính sự thánh thiện và yêu thương.
    
Sự thánh thiện còn có một đặc tính nữa, đó là không ham hố. Nếu bạn ước ao hạnh phúc, bạn sẽ lo lắng kẻo không đạt được nó. Lúc nào bạn cũng sống trong tình trạng không thoả mãn. Tình trạng không thoả mãn này sẽ giết chết hạnh phúc mà bạn đã cất bước đi tìm. Khi bạn ham hố sự thánh thiện cho bản thân, bạn nuôi nấng chính thói tham lam; và tham vọng này làm cho bạn trở nên ích kỷ, háo danh và không còn thánh thiện chút nào nữa.
    
Sự thánh thiện không có thể tìm thấy nơi những con người tham lam, tham vọng, ưu tư, xao xuyến, háo hức, cố gắng, kiếm chác, tiến thân, thành đạt. Còn nơi thánh nhân, có một nhận thức sắc bén, nhanh nhạy, xuyên thấu, và tỉnh thức, làm tan biến tất cả sự ngu xuẩn và tính ích kỷ, quyến luyến và sợ hãi.

Lời kết
    
Những dòng suy tư trên đây không phải là kim chỉ nam giúp cho ai đó nên thánh, nhưng chỉ là một nỗ lực nhỏ bé trình bày cho người đọc một cái nhìn phản tỉnh về sự thánh thiện. Bản chất của sự thánh thiện thì không thể phân tích và mô tả cụ thể được; nhưng hoa trái của nó thì có thể cảm nhận được qua nhiều phương diện khác nhau. Chúng ta có thể đo lường được mức độ của sự thánh thiện không? Chắc chắn là không. Tuy nhiên, chúng ta có một điểm qui chiếu, đó là chính Chúa Giêsu, vị Thánh - Nhân đích thực. Bởi vì Người không những là mẫu gương của sự thánh thiện mà còn là nguồn mạch của sự thánh thiện. Ngày ngày, Người thúc đẩy và trợ lực chúng ta, và sự thánh thiện của chúng ta phụ thuộc vào sự đáp trả của chúng ta đối với ân sủng của Người.


Lm JB Phạm Quang Long
Phỏng theo Anthony de Mello

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

If... Nếu...

If you never felt pain, then how would you know that I am a Healer?
Nếu bạn không bao giờ cảm thấy đau, thì làm sao bạn biết Tôi là
người chữa lành?


If you never had to pray, How would you know that I am a Deliverer?
Nếu bạn không bao giờ phải cầu nguyện, thì làm sao bạn biết
Tôi là người đáp lời cầu?


If you never had a trial, how could you call yourself an overcomer?
Nếu bạn không bao giờ có thử thách, làm sao bạn có thể cho mình là người vượt qua?


If you never felt sadness, How would you know that I am a Comforter?
Nếu bạn không bao giờ cảm thấy buồn, làm sao bạn biết
Tôi là người an ủi?


If you never made a mistake, How would you know that I am a forgiver?
Nếu bạn không bao giờ làm điều lầm lỗi, làm sao bạn biết
Tôi là người tha thứ?


If you knew all, How would you know that I will answer your questions?
Nếu bạn biết tất cả, làm sao bạn biết Tôi sẽ trả lời những câu hỏi của bạn?


If you never were in trouble, How would you know that I will come to your rescue
Nếu bạn không bao giờ bị phiền toái, làm sao bạn biết
Tôi sẽ đến giải cứu bạn?

If you never were broken, Then how would you know that I can make you whole?
Nếu bạn không bao giờ hư hỏng, thì làm sao bạn biết
Tôi có thể chữa lành bạn


If you never had a problem, How would you know that I can solve them?
Nếu bạn không bao giờ có phiền toái,  làm sao bạn biết
Tôi có thể giải quyết những phiền toái?


If you never had any suffering, Then how would you know what I went through?
Nếu bạn không bao giờ có đau khổ, thì làm sao bạn biết
những gì Tôi đã trải qua?


If you never went through the fire, Then how would you become pure?
Nếu bạn không bao giờ tôi luyện trong lửa, làm sao bạn trở thành tinh luyện?


If I gave you all things, How would you appreciate them?
Nếu tôi  cho bạn tất cả, làm sao bạn có thể hài lòng chúng?


If I never corrected you, How would you know that I love you?
Nếu tôi không bao giờ sửa chữa bạn, làm sao bạn biết tôi thương bạn?


If you had all power, Then how would you learn to depend on me?
Nếu bạn có quyền năng, thì làm sao bạn sẽ học để tin cậy vào Tôi?


If your life was perfect, Then what would you need me for?
Nếu cuộc đời của bạn hoàn hảo, thì bạn sẽ cần tôi làm gì?


I Love you,
Jesus

Tôi Thương bạn,
Giêsu



http://www.thanhlinh.net/

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Thinh lặng trong Kinh Thánh

Sự thinh lặng của con người trong Kinh thánh

Từ ban đầu, sự thinh lặng của con người rất ít được nhắc đến trong Kinh thánh. Thỉnh thoảng ta có thể gặp nơi Abraham, sự thinh lặng của người tôi tớ muốn lắng nghe (St  24,21), sự thinh lặng vì đau đớn của Giacóp khi hay tin con gái mình bị hãm hiếp (St 34,35) hoặc sự thinh lặng vì kiệt sức của những con người bị bất hạnh vùi dập: “Họ ngồi thinh lặng ngay trên thềm đất, đầu rắc đầy tro bụi, mình mặc áo vải thô” (Ac 2,10).



Trái lại văn chương khôn ngoan đã nhiều lần nhắc đến thinh lặng. Những hiền nhân trong Cựu Ước thường triển khai chủ đề thinh lặng này, và đôi khi xem đó là một phản xạ của một sự thận trọng có tính toán hoặc đơn thuần là một thái độ lịch sự trong xã giao. “Hãy nói cho gọn, ít lời, nhiều ý; làm như kẻ vừa quán triệt vấn đề, vừa biết nín thinh. Giữa hàng quyền chức, con đừng làm như kẻ bằng vai; và khi người khác nói, con chớ bô bô cái miệng” (Hc 32,8-9).

Nhưng nhất là các hiền nhân trong Kinh Thánh dường như có một nỗi nghi ngờ tự bản năng đối với lời nói: “Người năng nói năng lỗi, ai dè giữ lời nói mới là người khôn.” (Cn 10, 19); “Quân vô đạo dùng miệng lưỡi làm hại tha nhân; đứa ngồi lê đôi mách sẽ tiết lộ điều bí mật, còn người tín cẩn giữ kín chuyện riêng tư.” (Cn 11, 9.13); “Người chính trực ghét lời dối trá lọc lừa, kẻ gian ác làm điều xấu xa ô nhục.” (Cn 13,5): “Càng lắm lời, càng nhiều chuyện hão” (Gv 6,11)...

Ai nói quá nhiều khó lòng tránh được hời hợt, hay thiên về việc nói xấu hay vu cáo. “Giữ mồm giữ miệng là bảo toàn mạng sống, khua môi múa mép ắt sẽ thiệt thân” (Cn 13,3); “người không biết giữ miệng ví như một thành bỏ ngỏ, không tường lũy chở che” (Cn 25, 28).

Nghi ngờ đối với lời nói không đúng nơi đúng lúc: “Có lời mắng không đúng lúc, có kẻ thinh lặng mà lại biết điều. Có kẻ thinh lặng mà được kể là khôn ngoan, còn kẻ ba hoa thì đáng ghét. Có kẻ thinh lặng vì chẳng biết nói chi, có kẻ thinh lặng để chờ thời. Người khôn ngoan biết thinh lặng chờ dịp tốt, còn kẻ bép xép, dại khờ lại bỏ lỡ cơ may” (Hc 20, 1. 5-7)...

Việc nói quá nhiều những lời xấu xa chẳng những làm ô danh người khác và còn làm hoen ố tâm hồn mình. Những tác hại của lời vu cáo, của việc không làm chủ miệng lưỡi mình, minh họa trong câu chuyện ngụ ngôn miền Bretagne sau đây:

“Một phụ nữ nọ đã xưng thú rằng mình nói những điều không phải đối với láng giềng, cha xứ bảo bà làm việc đền tội bằng cách đem một con ngỗng lên đỉnh đồi mà nhổ lông trong một ngày lộng gió. Bà đã thi hành. Như khi bà đến báo cáo việc làm của mình, cha xứ yêu cầu là bà đi thu nhặt lại mọi chiếc lông ngỗng kia!

- Thưa cha, con đâu thể nào làm được, vì bây giờ chúng đã bay khắp nơi, và có nhiều lông bay ra khỏi làng ta rồi!

- Con à, vị cha xứ nói, những lời nói xấu và vu cáo cũng như thế đấy, con không sẽ chẳng bao giờ thu lại được!”

Thinh lặng cũng có thể biểu hiện cho một tâm hồn cao thượng và đại lượng đối với những yếu đuối của tha nhân: “Kẻ thiếu lương tri mới khinh khi người khác, người giàu hiểu biết thì ngậm miệng làm thinh”. (Cn 11,12). Chính lòng nhân hậu, tình thương, sự tôn trọng kẻ khác mới giữ chúng ta khỏi rêu rao, loan truyền một chuyện ô nhục, một kỷ niệm đau lòng nào đó, hầu không thêm gánh nặng cho người đã bị tổn thương. Thái độ lịch sự và tế nhị thường đi đôi với thinh lặng.

Và trước sự đớn đau hay trước nỗi khổ của một bạn hữu hay một anh em, thì tốt hơn là nên thinh lặng, như Gióp đã nói với những người đến thăm ông và nói huyên thiên để an ủi ông: “Phải chi các anh biết nín lặng! Như thế các anh mới là người khôn ngoan” (G 13, 5).

Thật khó mà không đáp lại một lời chửi rủa bằng một lời chửi rủa, một tiếng la hét bằng cách nói lớn tiếng. Cần phải có một sức mạnh tâm hồn để đôi khi biết thinh lặng trong một cuộc cãi vã mà cảm xúc vượt qua lý trí. Lòng kiêu ngạo bị tổn thương thì tự nhiên tìm cách nói tiếng nói cuối cùng. Không dễ gì im lặng khi ta tin chắc rằng mình đang có lý.

Nhất là rất khó im lặng khi người vô liêm sĩ hay độc ác có vẻ thắng thế: “Tôi đã nói: ‘mình phải giữ gìn trong nếp sống, để khi ăn nói khỏi lỗi lầm; tôi quyết sẽ ngậm tăm, bao lâu người gian ác còn đối mặt’. Tôi câm lặng làm thinh chẳng hé môi, màkhông ích lợi gì, nên cơn đau lại càng nhức nhối. Nghe trong mình nung nấu tự tâm can, càng nghĩ ngợi, lửa càng bừng cháy, miệng lưỡi tôi phải thốt nên lời” (Tv 38, 2-4).

Hẳn là không lành mạnh nếu để cho người khác chà đạp mình. Biết tự vệ đôi khi là một vấn đề phẩm giá và công bình. Nhưng sức mạnh của một người thinh lặng, ấy là không để sa mình vào một cơn giận giữ không kềm chế và biết phân định cơ hội để đáp trả.

Chúng ta chẳng thường hối hận vì mình dễ dàng để cho những phản ứng tức thì lôi cuốn chúng ta đi mà không kịp cân nhắc lời nói sao? Đôi khi, sự thinh lặng lại hùng biện hơn. Ta có thể cho rằng lời nói, trong thời điểm ấy, sẽ không làm gia tăng tình yêu và chân lý, vì người anh em mình không ở trong trạng huống cần thiết để lắng nghe.

Sau cùng, đối với các hiền nhân trong Kinh Thánh, sự khôn ngoan thần túy nhân loại này cũng đã là một ân sủng của Thiên Chúa, Đấng giúp chúng ta phân định lúc nào nên nói và lúc nào nên im. “Lạy Chúa, xin canh giữ miệng lưỡi con và trông chừng môi miệng con” (Tv 140,3).

Làm chủ miệng lưỡi như thuỷ thủ cầm lái điều khiển con thuyền

Cũng có sự thinh lặng của người có đức tin, họ thinh lặng trước bí mật trần gian hay trước hành động của Thiên Chúa vượt quá sự hiểu biết của mình: “Thời buổi này, ai khôn ngoan thì làm thinh, vì đây là một thời khốn quẫn” (Am 5,11). Đấy là sự thinh lặng của Gióp; sau khi đã nói nhiều lời vô ích, ông công nhận: “Con đã nói năng thiếu suy nghĩ, con biết trả lời làm sao? Con sẽ đưa tay lên che miệng...” (G 40,4), hoặc sự thinh lặng của người công chính; qua gian truân thử thách của dân mình, ông vẫn hy vọng vào chiến thắng cuối cùng của Đấng Tác Sinh và Người Chủ của vận mệnh con người: “Đức Chúa xử tốt với ai tin cậy Người, với ai hết lòng tìm kiếm Chúa. Biết thinh lặng chờ đợi ơn cứu độ của Đức Chúa... hãy cứ ngồi im lặng một mình” (Ac 3,25tt).

Sự thinh lặng của kẻ tin trong Kinh Thánh không phải là một sự cam chịu đầu hàng và cũng không phải là tuyệt vọng, nhưng mặc cho thử thách, đấy là một sự tin tưởng nhẫn nại vào tình yêu và sự thành tín của Chúa.

Trong Tân Ước, ta không hề tìm ra bản phân tích về những ơn ích và những hàm hồ của sự thinh lặng. Nhưng chúng ta có thể tìm thấy đoạn dài sau đây trong thư thánh Giacôbê, như một âm vang của suy tư theo chiều hướng các sách Khôn Ngoan:

“Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi, là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão. Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thân. Nếu ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để chúng vâng lời, thì ta điều khiển được toàn thân chúng. Anh em cũng hãy nhìn xem tàu bè: dù nó có to lớn, và có bị cuồng phong đẩy mạnh thế nào đi nữa, thì cũng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ để điều khiển theo ý của người lái. Cái lưỡi cũng vậy: nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa...

Mọi loài thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người đều có thể chế ngự và đã chế ngự được. Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được: nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người. Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa. Thưa anh em , như vậy thì không được. Chẳng lẽ một mạch nước lại có thể phun ra, từ một nguồn, cả nước ngọt lẫn nước chua sao? Thưa anh em, làm sao cây vả lại có thể sinh ra trái ô-liu, hoặc cây nho sinh trái vả? Nước mặn cũng không thể sinh ra nước ngọt”(Gc 1,26 ; 3,2-12).

Ngôn ngữ là một trong những điều cao cả của con người, tuyệt tác của công trình sáng tạo. Lời nói chúng ta, khi phục vụ cho điều lành hay điều dữ, đều mang theo hương thơm hay mùi hôi thối của nguồn nước bên trong, nơi nó xuất phát đó là cõi cõi lòng của chúng ta!

Những con người thinh lặng

Georges Bernanos viết trong tác phẩm Sous le soleil de Satan (Dưới mặt trời của Satan) như sau: “Thánh nhân được chín mùi trong thinh lặng”.

Thật sự Thiên Chúa luôn có một đường lối sư phạm. Người luôn khởi sự bằng cách đưa vào ‘sa mạc’ những ai mà Người muốn trao phó một sứ mạng khó khăn hầu phục vụ dân Người: Môsê vào sa mạc Madian, Gioan Tẩy giả vào sa mạc Giuđê, thánh Phaolô vào sa mạc Xyria, thánh Biển Đức vào nơi hoang vắng trên núi Subiaco, thánh I-nhã Loyôla vào Marêsa, thánh Phanxicô Assisi trong các hang của đồng bằng Assisi.

Đây là thời điểm của sự thật mà con người ý thức về sự nghèo hèn của mình và mở lòng đối với ân huệ của Thiên Chúa. Thời điểm để cắm rễ cho đức tin. Thời điểm phải thực hiện sự đoạn tuyệt cần thiết để đón nhận một tự do mới và chuẩn bị sống một đời sống hiệp thông mới với mọi người. Tất cả các vị chứng nhân vĩ đại ấy, những người đã đánh dấu lịch sử Cứu Độ, sẽ vẫn mãi là những người yêu mến sự thinh lặng, dù nhiều khi họ sống một nếp sống thật năng động.

Làm sao có thể tự xưng là chứng nhân của Đức Kitô nếu ta không sống đời thinh lặng theo gương các thánh trên đây, diễn tiến theo nhịp điệu: thờ lạy Chúa Cha và phục vụ con người! Ai không thích thinh lặng, người ấy có nguy cơ trở nên một con két nói chuyện tôn giáo, một viên chức quản lý việc thánh, chứ không phải là một cộng tác viên của Thiên Chúa.

 Tác giả thánh vịnh ca lên: “Lạy Chúa, đối với Người, ngay cả thinh lặng cũng là lời ngợi khen” (Tv 64).  Vì thế, từ những vị ẩn sĩ đầu tiên đến các nam nữ đan sĩ ngày nay, hàng trăm ngàn người nam nữ đã biểu lộ sự yêu chuộng của mình đối với sự cô tịch, không phải vì bản thân sự cô tịch mà vì muốn kiếm tìm Thiên Chúa tại nơi ấy. Một cách biểu trưng, thánh Becnađô xem đấy là một phép thanh tẩy lần thứ hai: “Người đan sĩ này đã được chôn lại với Đức Kitô nhờ phép thanh  tẩy trong sa mạc” (Thư 250 cho viện phụ ở Portes).

Họ đặc biệt được cuốn hút bởi một câu phỏng theo ngôn sứ Hôsê mà ta thường thấy được ghi ở cổng vào tu viện họ: “Này ta sẽ khuyến dụ con, đưa con vào sa mạc và nói khó với lòng con!” (x. Hs 2,16). Họ luôn xem nơi vắng vẻ là nơi cần thiết để có được một tình thân mật với Thiên Chúa, để mở lòng ra với Người.

Charles de Foucauld  cho rằng: “Cần phải thông qua sa mạc và ở lại đó để nhận được ân sủng của Thiên Chúa... Sa mạc này đối với tôi thật là êm ái dịu dàng: thật là êm ái và lành mạnh khi cảm nhận được sự cô tịch, đối diện với những điều vĩnh cửu! Ta cảm thấy chân lý tràn ngập bản thân mình. Vì thế, tôi cảm thấy rất khổ tâm khi phải đi đây đó, phải lìa xa sự cô tịch và thinh lặng này.” (Sách thiêng liêng).

Tương quan giữa cô tịch và thinh lặng ăn sâu vào truyền thống mấy nghìn năm của đời sống đạo trong mọi tôn giáo. Nhưng, như chúng ta đã thấy, sự cô tịch không phải là điều đương nhiên.Như Bernanos đã viết: ‘Hỏa ngục cũng có nội cấm’ (Sous le soleil de Satan). Các giáo phụ trong sa mạc đã nói lên đầy đủ về cuộc chiến và thử thách của các ngài để chúng ta biết rằng một thời gian dài cư ngụ trong cô tịch không phải là cuộc ‘sống nhàn’ êm ái.

Sự cô tịch cũng có thể có những ảnh hưởng nguy hại đối với một số người, những người nóng nảy hay đa cảm, trên bình diện quân bình nhân bản cũng như trên bình diện thiêng liêng. Ta không thể đột nhiên đi từ một nếp sống hoạt động sang sa mạc, xa cách mọi cuộc dấn thân trực tiếp, mà đồng thời không cảm thấy một sự nghèo nàn khô cằn, mà không rơi vào một thế giới tưởng tượng hàm hồ và chạy theo tiến trình cổ điển của những luật bù trừ khác nhau.

Sự cô tịch không phải là nơi hẹn lý tưởng cho mọi người vào mọi lúc. Điều hiển nhiên đầu tiên, ấy là người nào mong sống cô tịch để tự tìm kiếm chính mình hay để lập một kỷ lục, người ấy sẽ không thể ở lâu ngày trong cô đơn.

Nhà Thiên Chúa có nhiều chỗ ở, và có nhiều con đường dẫn về nhà ấy. Như thế, nếp sống cô tịch dài ngày không phải là con đường duy nhất để gặp gỡ Thiên Chúa. Trái lại, không ai có thể bỏ đi hoàn toàn cái thời gian định kỳ dành cho thinh lặng và cô tịch.

Có nhiều hình thức cô tịch. Và Chúa ban cho mỗi người hình thức thinh lặng thích hợp với mình. Trong cuộc đời mình, có những giai đoạn thuận lợi và cần thiết hơn những giai đoạn khác. Thời gian và chu kỳ tùy thuộc vào sự phân định nhân bản và thiêng liêng, và sự phân định ấy cần phải được thực hiện với sự đồng hành của một vị linh hướng kinh nghiệm.

Những ân sủng và lời gọi của Thiên Chúa thật đa dạng. Không phải ai cũng được kêu gọi làm nhà ẩn tu trong sa mạc hoặc đan sĩ Xitô hay đan sĩ Brunô. Cuối cùng, như đã nói trên, mọi ơn gọi, dù là ơn gọi sống cô tịch nhất, đều gắn liền với một sứ mạng. Từ thuở Abraham, tiếng gọi của vị Thiên Chúa Giao Ước, khi được trở thành người, luôn hướng về sự cứu độ và tương lai của dân Chúa. Chẳng hạn, cha Voillaume đã nói như sau về cha Foucauld: “Ơn gọi của cha (Foucauld) là một ơn gọi hiện diện giữa các dân tộc, một sự hiện diện làm chứng cho tình yêu Chúa Kitô” (Au Coeur des Masses).

Nghịch lý này chỉ là lớp vỏ bên ngoài, vì kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể rất hiện diện bằng tư tưởng và bằng tấm lòng đối với những người ở thật xa, và lại rất vắng mặt đối với chị em giữa cộng đoàn. Ta không thể lẫn lộn sự gần gũi và sự hiện diện. Không phải chỉ cần ở gần những người láng giềng là hiện diện đối với họ. Thánh Têrêxa thành Lisieux đã chẳng phải từng được phong làm bổn mạng các xứ truyền giáo đó sao? Trong khi thánh nữ chưa bao giờ rời Nhà Kín, nơi mà thánh nữ đã nói: “Tôi sẽ là tình yêu, do đó tôi sẽ là tất cả.”

Chính phẩm chất tình yêu đốt cháy lòng ta mới làm cho sự cô tịch hay sự gần gũi biến thành sự hiện diện đích thực. Con đường tốt nhất là con đường mà Thiên Chúa muốn chúng ta đi, con đường mà hoàn cảnh chúng ta chỉ định, mà tính khí chúng ta đòi buộc, và tóm lại, con đường mà chúng ta có thể mến Chúa yêu Người nhiều hơn.

Thinh lặng và lời nói

“Thinh lặng không gì khác hơn là lời nói nội tâm” (L. Lavelle, La parole intérieure). Ở bình diện thứ nhất, thinh lặng mở lòng để chúng ta nghe tiếng nói của ý thức mình. Thật vậy, đối với con người, một tư tưởng có giá trị gì đâu nếu không có từ ngữ để diễn đạt?  Cũng vậy, thinh lặng mà thiếu lời nội tâm, chẳng phải chỉ là sự trống rỗng của vô thức sao? Ở bình diện thứ hai, thinh lặng mở lòng để chúng ta nghe Tiếng Chúa chạm đến ‘lòng’ mình qua lời của Chúa Kitô và sự linh hứng của Thần Khí.
Như vậy, thinh lặng không phải là vắng bóng hay khước từ lời nói, nhưng trái lại, đấy là đón nhận lời nói nội tâm, nơi xuất phát của mọi lời bên ngoài. “Các tâm hồn chìm xuống trong thinh lặng, như vàng và bạc chìm xuống trong nước tinh khiết, và những lời chúng ta nói chỉ có ý nghĩa nhờ sự im lặng nơi nó tắm mình” (Maeterlinck, Le trésor des Humbles).

Nếu lời nói không được bao phủ, xen kẽ bằng thinh lặng, nó sẽ trở nên một loạt ngôn từ và âm nhạc sẽ trở thành những âm thanh chói tai! Thiếu thinh lặng đi trước và theo sau, lời nói con người và âm nhạc chỉ còn là một chuổi những âm thanh liên tục khiến không ai chịu nổi! Thinh lặng đem lại cho mỗi ngôn từ và mỗi nốt nhạc sức nặng và màu sắc đặc trưng. (đám cưới, lễ ồn quá).

Như thế, chẳng phải là tình cờ mà, trong truyền thống Kinh Thánh, thinh lặng đi trước hoặc nối dài Lời, làm rõ nghĩa cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người. Những cảnh ‘Thần Hiển’ hay ‘Thiên Chúa tỏ mình’ thường được bao phủ bằng một sự thinh lặng cung kính bao la. “Còn Đức Chúa, Người ngự trong thánh điện, toàn thể trái đất, hãy thinh lặng trước nhan Người!” (Kb 2,16). Và lời loan báo về một lần can thiệp của Người, vì lợi ích của dân Người, thường đi đôi với một lời mời gọi phải chờ đợi trong thinh lặng:

Hãy thinh lặng trước Tôn Nhan Thiên Chúa, vì Ngày của Chúa đã đến gần” (Xp 1,7). “Hỡi các đảo, hãy thinh lặng nghe tôi, Mong các dân được thêm sức mạnh, Tiến lại gần và lên tiếng nói!” (Is 40,1). “Hỡi mọi xác phàm, hãy thinh lặng trước nhan Đức Chúa! Bởi vì Người tỉnh giấc và ra khỏi Nơi Thánh của Người” (Dcr 2, 17). “Khi Con Chiên mở ấn thứ bảy, thì cả trời yên lặng chừng nửa giờ...” (Kh 8,1).

Như thánh Gioan đã viết trong lời tựa tuyệt vời của ngài, “Lúc khởi đầu... Ngôi Lời là Thiên Chúa” và Ngôi Lời ấy như được bao phủ trong một sự viên mãn lặng thinh. “Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẳm, Lời toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu” (Kn 18, 14-15).

Về vấn đề Đức Kitô nhập thể, thánh Phaolô nói rằng đấy là Lời mặc khải, là ‘một mầu nhiệm vốn được giữ thinh lặng từ ngàn xưa, nhưng nay lại được biểu lộ như lời các ngôn sứ trong Sách Thánh’ (Rm 16, 25).

Thinh lặng đi trước và theo sau Lời Mặc Khải. Xưa kia cũng như ngày nay, Lời chỉ có thể ‘sinh ra’ trong lòng một người và trong lòng nhân loại thông qua một sự chín mùi lâu dài, trong thinh lặng và âm thầm: sự thinh lặng siêu hình của Thiên Chúa, một tình yêu tác tạo.

Sự thinh lặng biết lắng nghe

Nếu trong Kinh Thánh Thiên Chúa ‘nói’ với dân Người, thì ta hiểu rằng ‘lắng nghe’ là đặc điểm của truyền thống Kitô Do Thái giáo.

Hỡi Israen, hãy im lặng mà nghe! Hôm nay ngươi đã trở thành dân của Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi. Ngươi hãy nghe tiếng Đức Chúa. Thiên Chúa ngươi, và đem ra thực hành những mệnh lệnh và thánh chỉ của Người” (Dnl 27,9).

Nhưng đối với con người trong Kinh Thánh, “Lời Thiên Chúa” không rơi từ trời xuống như một thiên thạch, hay một tiếng nói vọng từ trong sân khấu.  Nó ‘sinh ra’ khi biến cố gặp gỡ con người sống các biến cố đó, chẳng hạn như biến cố dân Chúa đã kinh qua: ra khỏi Aicập, lưu dày ở Babylon. Lịch sử một dân tộc và sứ điệp được loan báo bởi những con người từng có kinh nghiệm thiêng liêng (được linh hứng) thì không thể tách rời nhau, khi nói đến khái niệm ‘Lời Chúa’ trong Kinh Thánh.

Suốt dòng lịch sử, Thiên Chúa đã cho nổi lên những ‘người trung gian’, Abraham, Môsê, các ngôn sứ, các hiền nhân. Những người này, trong sự thinh lặng của sa mạc hay của lòng mình, đều lắng nghe Thần Khí, suy nghĩ và giải thích ý nghĩa sâu xa của lịch sử dân tộc mình và nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, một sự Hiện Diện luôn hành động. Như thế, các biến cố ấy trở thành ‘Lời Chúa’, trở thành những sứ điệp có thể hiểu được và cần được truyền lại cho toàn dân.

Trong chiều hướng đó, trong các tác phẩm của thánh Gioan chẳng hạn, động từ ‘lắng nghe, nghe’ có một tầm quan trọng rất lớn. Chữ ấy trở đi trở lại 58 lần trong Phúc âm thánh Gioan, 16 lần trong các thư tín của ngài và 46 lần trong sách Khải Huyền. Nó là một thành phần của từ vựng mặc khải. 22 lần là ‘nghe’ Chúa Giêsu, con người Ngài, ‘nghe’ lời nói và tiếng nói của Ngài, và 4 lần là ‘nghe’ Chúa Cha hay tiếng của Cha.

Chúa Giêsu - rất quen thuộc với thinh lặng - tự giới thiệu mình là người nói, mặc khải, làm chứng về điều mình đã nghe. Ngài thường sống trong thái độ lắng nghe Cha Ngài. Ngài là ‘Đấng đến từ trên cao... để làm chứng về điều mình thấy và nghe” (3,31-32). “Đấng sai tôi thì chân thật và điều tôi nghe nơi người cũng chân thật, đấy là điều mà tôi công bố cho thế gian’ (8,26).

Và người Do Thái muốn giết Ngài vì Ngài nói, Ngài mặc khải sự thật. “Bây giờ các ông muốn giết tôi, tôi là người đã nói sự thật mà tôi đã nghe nơi Thiên Chúa” (8,40). Ngài là Ngôi Con, Đấng đã tỏ cho môn đệ - mà Ngài xem là ‘bạn hữu’ - biết mọi điều Ngài đã ‘nghe’ nơi Cha Ngài. “Mọi điều Thầy nghe được nơi Cha, Thầy đã cho anh em biết” (15,15).

Người môn đệ, theo gương Ngài, là người biết lắng nghe. Hành trình đức tin, hành trình theo Chúa Kitô luôn khởi đầu bằng một lời mà ta nghe được. Do đó, chính vì ‘nghe lời’ của thầy mình mà hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả đã ‘theo Đức Giêsu’. Nhưng, lời của Chúa Giêsu thì lại càng sâu sắc hơn nữa.

Đó là điều mà những người Samari tuyên bố khi họ nghe được lời chứng của người phụ nữ từ giếng Giacóp quay về. “Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa. Họ bảo người phụ nữ: ‘Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Ngài thật là Đấng cứu độ trần gian” (4,41-42).
Nếu lời của người phụ nữ đã đánh thức đức tin của họ, thì lời Đức Giêsu, sau khi được ‘lắng nghe’ và ‘nghe ra’, đã thay đổi cái đức tin non trẻ ấy thành một xác tín cá nhân: “Người này là Đấng cứu độ”. Nghe là một yếu tố căn bản cho đức tin.

Trong tác phẩm thánh Gioan, có một tương quan mật thiết giữa ‘nghe lời Chúa’ và ‘tin’. “Ai nghe lời tôi và tin và Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời” (5, 24). Lắng nghe lời Đức Giêsu, nhận ra đấy là lời của Đấng Thiên Sai và tin vào lời ấy, gắn bó với lời ấy như gắn bó với lời của chính Chúa Cha, tất cả những hành động ấy đều là một. Thế nhưng hành động ‘lắng nghe và nghe’ ấy đòi hỏi một số tư thế nội tâm, mà tư thế căn bản là đón nhận và suy tư trong thinh lặng của lòng mình.

Việc lắng nghe ấy không phải là hệ quả của những cuộc thảo luận vô bổ, mà là kết quả ‘sự thinh lặng biết lắng nghe’, và đó đã là một tác động của Thiên Chúa để thôi thúc lòng con người mở ra hầu đón nhận mặc khải của Người. “Không ai đến được với tôi nếu Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy...” Trong sách Ngôn sứ, có lời chép rằng: “Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai đã nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha thì sẽ đến với tôi” (6,44-45).

Một chủ đề khác cũng gần với chủ đề ấy, trong thánh Gioan, ấy là chủ đề ‘nghe tiếng’, bao hàm một tương quan trực tiếp hơn với chính con người Giêsu: Tiếng ấy là ‘tiếng’ của Con Thiên Chúa, (5,25) của “Con loài người”, của Đấng xét xử kẻ sống và kẻ chết (5,27-29), của Người Chăn Chiên Lành, (10, 3-5, 16-17), của vị vua và chứng nhân cho chân lý (18, 37).

So sánh với lời nói, thì ‘tiếng nói’ làm ta liên tưởng rõ ràng hơn đến một lời gọi, một lời mời khẩn thiết. Khi nghe ‘tiếng’ Thầy ‘gọi’, Maria vội vã đứng lên và đến với Chúa Giêsu (11,28-29). ‘Nghe’ và nhất là ‘lắng nghe’ tiếng thì đòi hỏi phải có mối liên hệ thuộc về nhau giữa người gọi và người được gọi.

Về phương diện này, bài giảng về Đấng Chăn Chiên lành soi sáng cho chúng ta nhiều và cho ta thấy cái tương quan thân mật khi nói đến việc ‘lắng nghe’ tiếng Chúa. Chiên của Ngài ‘lắng nghe tiếng Ngài’, vì mỗi con được gọi đúng tên mình và chúng nhận ra tiếng của Chủ Chăn. Như Maria Magdala sẽ ‘nhận ra’ tiếng của Thầy mình chỉ khi nghe một người gọi tên mình: “Maria!”; như hôn thê trong Diễm ca ‘nhận ra’ tiếng của Người Yêu (2,8; 5,2; 8,13). Maria nhận ra Ngài không phải vì nhìn thấy Ngài (bởi lẽ chị ngỡ là người làm vườn) nhưng vì giọng nói của Ngài, vì nghe ‘tiếng’ Ngài. Cũng thế, Gioan Tẩy Giả so sánh mình với bạn của tân lang và ông ‘đứng đó lắng nghe, hớn hở vui mừng vì nghe tiếng tân lang” (3,29).

Lời Chúa chỉ có thể chạm đến lòng của người nào sẵn sàng, một người ở trong tư thế lắng nghe. Chỉ người nào tìm kiếm Thiên Chúa, yêu mến thinh lặng, ‘lắng nghe Thiên Chúa’, thi mới nghe được mà thôi.

Michel Hubaut