Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo hội toàn cầu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo hội toàn cầu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2012

Kinh cầu cho tự do tôn giáo

Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ

Lạy Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá,
từ bàn tay quan phòng của Chúa
chúng con nhận được quyền sống, quyền tự do, và quyền theo đuổi hạnh phúc.


Chúa đã quy tụ chúng con thành dân của Chúa
và ban cho chúng con quyền lợi và bổn phận để thờ phượng Chúa,
là Thiên Chúa duy nhất đích thật,
và Con Chúa, là Đức Giêsu Kitô.

Qua quyền năng và hoạt động của Chúa Thánh Thần,
Chúa mời gọi chúng con hãy sống đức tin giữa lòng thế giới,
hãy đem ánh sáng và chân lý cứu độ của Phúc Âm đến mọi ngõ ngách của xã hội.

Xin Chúa hãy chúc lành cho chúng con trong cuộc chiến bảo vệ sự tự do tôn giáo.
Xin ban cho chúng con sức mạnh về trí tuệ và tâm hồn
để sẵn sàng bảo vệ tự do khi nó bị đe doạ;
xin ban cho chúng con sự can đảm để lên tiếng
nhân danh các quyền lợi của Hội Thánh
và sự tự do lương tâm của mọi người có đức tin.

Ôi lạy Cha trên trời,
xin hãy ban cho tất cả các con cái của Cha đang quy tụ trong Hội Thánh
có được một tiếng nói rõ ràng và thống nhất
trong giờ phút quyết định của lịch sử quốc gia chúng con,
có như thế, với mọi thử thách được vượt qua và mọi nguy hiểm được lướt thắng –
vì con cháu của chúng con, và vì mọi người đến sau chúng con –
mảnh đất vĩ đại này sẽ luôn luôn là “một quốc gia, không phân chia, dưới ơn che chở của Thiên Chúa, với tự do và công bằng cho mọi người.”

Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Amen.

Bản kinh nguyên thuỷ bằng Anh ngữ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, do Pt Giuse Trần Văn Nhật lược dịch



Prayer for religious liberty


O GOD OUR CREATOR,
from your provident hand we have received
our right to life, liberty, and the pursuit of happiness. 

You have called us as your people and given us
the right and the duty to worship you, the only true God,
and your Son, Jesus Christ.

Through the power and working of your Holy Spirit, 
you call us to live out our faith in the midst of the world,
bringing the light and the saving truth of the Gospel 
to every corner of society.

We ask you to bless us
in our vigilance for the gift of religious liberty.

Give us the strength of mind and heart
to readily defend our freedoms when they are threatened;
give us courage in making our voices heard
on behalf of the rights of your Church 
and the freedom of conscience of all people of faith.
Grant, we pray, O heavenly Father,
a clear and united voice to all your sons and daughters 
gathered in your Church
in this decisive hour in the history of our nation,
so that, with every trial withstood
and every danger overcome—
for the sake of our children, our grandchildren, 
and all who come after us—
this great land will always be “one nation, under God, 
indivisible, with liberty and justice for all.”

We ask this through Christ our Lord.
Amen.

Copyright © 2012, United States Conference of Catholic Bishops, Washington, DC. All rights reserved.
To order publication no. 7­328, visit usccbpublishing.org or call 800­235­8722.

http://www.usccb.org/

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

Hình ảnh các nông dân Văn Giang tại bệnh viên Việt Đức

Lê Hiền Đức

Người để cả cuộc đời giúp hàng trăm nghìn dân oan chống lại bọn cướp đất, được nhiều người trìu mến gọi bằng “mẹ” và được nhận danh hiệu “minh bạch quốc tế”, vừa cùng nông dân tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược thì bị gọi ngay là “phần tử quấy rối”, bị triệu tập lên triệu tập xuống bằng những tờ giấy viết bởi kẻ mù chữ. Còn nông dân đi biểu tình trở về thì bị đòn thù của bọn côn đồ tay chân “bộ máy mù chữ” ấy giáng trả thảm khốc làm người xem không cầm được nước mắt.



Trong khi đó bọn Tàu Cộng chui sâu vào đất nước làm bè cá ở Cam Ranh hàng chục năm nay và nay lại đã mua hết các vùng đất đồi nhìn xuống quân cảng Cam Ranh cốt khống chế toàn bộ quân cảng này lúc hữu sự thì chính quyền cấp nào cũng chỉ biết “hảo hảo” mà không hề biết gì đến những hiểm họa đang rình rập ngay bên mạng sườn của Tổ quốc.
Những hiện tượng trớ trêu như thế phải chăng là biểu hiện của mô hình xã hội chủ nghĩa thích ứng với thời đại toàn cầu hoá, giúp toàn dân thấy rõ cái khác biệt so với con đường Việt Nam dân chủ cộng hòa độc lập tự do hạnh phúc thời cụ Hồ?
Bauxite Việt Nam



Hiện giờ, các nông dân Văn Giang bị nhóm giang hồ khủng bố vẫn đang được cấp cứu tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội, người nhà, an ninh Hưng Yên và Hà Nội đầy nghẹt tại bệnh viện.


Chưa có lệnh bắt khẩn cấp bất kỳ tên giang hồ nào cho dù nhóm này đều quá quen thuộc với công an Hưng Yên. Ngày mai chưa biết đại diện của công an Hưng Yên sẽ trả lời báo chí ra sao, xử lý thế nào hay lại tiếp tục chìm xuồng như vụ hành hung hai nhà báo VOV hôm 24 tháng 4 năm 2012?



clip_image002
clip_image004
clip_image006
clip_image008
clip_image010
clip_image012
clip_image014
clip_image016
clip_image018
clip_image020
clip_image022
clip_image024
clip_image026
clip_image028
clip_image030
clip_image032
clip_image034
clip_image036
clip_image038
clip_image040
clip_image042
clip_image044
clip_image046
clip_image047
clip_image048
clip_image049

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Chuyện kể về một linh mục Công Giáo trên tàu Titanic



VRNs (21.04.2012) - Toronto, USA - Những ngày vừa qua đã có một loạt các hoạt động kỷ niệm 100 năm tàu Titanic gặp nạn diễn ra trên toàn thế giới, nhất là tại thành phố Belfast, nơi “khai sinh” ra con tàu.
Trong số những bí mật chưa được khám phá hết về vụ đắm tàu lịch sử này có câu chuyện về một linh mục Công Giáo, cha Thomas Byles, người đã sẵn sàng nhường phao cứu hộ cho người khác để ở lại trên con tàu Titanic và ban các bí tích sau cùng cho các nạn nhân.

Cha Byles khi ấy 42 tuổi, đang trên chuyến hải trình định mệnh đến New York để làm lễ cưới cho người em của mình là William.
Một số nạn nhân sống sót trong thảm kịch Titanic kể lại rằng khi con tàu đâm vào khối băng ngầm thì cha Byles đang đọc kinh thần vụ ở tầng trên của boong tàu. Khi đó là ngày Chúa Nhật 14 tháng 4 năm 1912.
Cũng theo các nhân chứng có mặt, khi con tàu sắp chìm, vị linh mục này đã mau chóng giúp đỡ các trẻ em và phụ nữ xuống các xuồng cứu hộ, đồng thời ngài cũng tranh thủ giải tội, ban ơn xá giải và sau đó thì lần chuỗi mân côi với các hành khách đang gặp nạn trên tàu.
Bà Agnes McCoy, một trong những nạn nhân sống sót trong thảm họa này, kể lại: “Khi con tàu sắp chìm, Cha Byles đứng dưới boong tàu cùng với các tín hữu Công Giáo; các tín hữu Tin lành và Do thái cũng quỳ cầu nguyện quanh ngài.”
Bà Agnes kể lại với tạp chí New York Telegram ra ngày 22 tháng 4 năm 1912 rằng “cha Byles âm thầm lần chuỗi cầu nguyện cho các linh hồn sắp phải lìa bỏ cõi đời.”
Bạn của cha Byles là cha Patrick McKenna cho biết: “cha Byles đã hai lần từ chối xuống xuồng cứu hộ và để dành chỗ đó cho người khác. Ngài sẵn sàng ở lại trên tàu để hoàn thành trọn vẹn vai trò của mình trong tư cách một linh mục khi mà người khác đang cần đến sứ vụ của ngài.”
Câu chuyện về cha Thomas Byles quả thật là một nét đẹp và đầy ý nghĩa giữa những tang thương và chết chóc trong thảm kịch Titanic.
Anthony Dũng
Dựa theo Patrick B. Craine

Nguồn: Chuacuuthe.com
Tựa đề là của PK

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Tại sao Giáo hội bị ghét?

TGM Fulton Sheen
TGM Fulton Sheen là nhà giảng thuyết lừng danh vào thập niên 1960 
Tôi hân hạnh thuộc về một Giáo Hội người ta ghét. Đã hẳn, kẻ nhận biết bản tính thần linh của Giáo Hội thì yêu Giáo Hội. Nhưng, kẻ tưởng Giáo Hội là lỗi thời, lạc hậu, dị đoan, ma thuật thì ghét Giáo Hội. Kẻ chịu ơn thiêng liêng của Giáo Hội, thì mến Người như Mẹ vậy. Các kẻ khác thì xua đuổi Người, hoặc ít là làm ngơ vậy. Các môn phái chia rẽ nhau về nhiều điều, nhưng hợp nhau trong sự coi Giáo Hội là kẻ thù chung.

Thế gian đối xử với Giáo Hội y hệt như đã đối xử với Đức Kitô. Ngài cũng được yêu mến, nhưng cũng bị ghét bỏ. Không có ai được quí trọng như Ngài, nhưng cũng không có ai bị khinh dể như Ngài.

Người ta tự hỏi: “Tại sao Phật Giáo không bị ghét, mà Công Giáo lại bị? Tại sao Đức Phật không bị bêu nhục mà Đức Kitô lại bị?”

Ta hãy nói về sự yêu ghét đối với Đức Kitô, rồi sẽ nói về sự yêu ghét đối với Giáo Hội.

Trong cuộc đời Chúa chúng ta, sự yêu và sự ghét đã tỏ lộ cách mãnh liệt, hơn bất cứ trong cuộc đời người nào khác. Ngài báo trước mình sẽ được yêu mến cũng như bị ghét dơ. Ngài nói người ta sẽ thờ phượng Ngài cũng như sẽ khinh dể Ngài. Ngài sẽ được yêu mến nhiệt tình và bị ghét dơ cực độ. Ngài bảo cho biết cuộc song đấu ấy sẽ kéo dài cho đến ngày thế mạt; người ta sẽ dựng cho Ngài một cây thập giá, nhưng treo trên đó rồi, Ngài sẽ kéo những tấm lòng yêu mến lên với Trái Tim đầy bác ái của Ngài: “Khi nào Tôi bị treo lên, Tôi sẽ kéo mọi sự lên cùng Tôi”.

Ngài bảo người ta sẽ mến Ngài hơn cha mẹ yêu con cái, hơn con cái yêu cha mẹ. Như thế không có nghĩa là cha mẹ thôi yêu con cái, hoặc con cái thôi yêu cha mẹ. Nhưng có nghĩa là họ phải yêu nhau trong Ngài. Ngài không bảo ta phải bớt lòng yêu nhau, nhưng chỉ bảo phải mến Ngài trên hết. Như vậy, chẳng hợp lý sao ? Nào toàn thể chẳng hơn cá phần? Ngọn lửa chẳng hơn tia sáng ? Vòng tròn chẳng hơn cánh cung? Đền thờ chẳng hơn cây cột? Đấng Tạo Hóa chẳng hơn các tạo vật ? Thiên Chúa chẳng đáng mến hơn mọi người sao?


Hãy đi ngược dòng lịch sử, xem có người nào khi đã chết, còn được người ta yêu mến đến mức tế tự, cầu đảo chăng ? Trong mọi thời đại, Thánh Giá Chúa Giêsu vẫn thấm đầm nước mắt tình yêu… Các thế hệ đã hăm hở chạy đến cùng Cây Thánh Giá, và tuyên xưng như Thánh Phaolô xưa: “Ai sẽ tách biệt chúng tôi ra khỏi tình yêu Đức Kitô? Tôi tin rằng dù sự sống hay sự chết, dù Thiên thần, lãnh thần hay quyền thần; dù tương lai hay sức mạnh; dù sự cao sâu hay bất cứ sự vật nào, có sức tách biệt chúng tôi ra khỏi tình yêu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi ! ”

Điều ấy, Napoléon đã nhận ra, như các bậc vĩ nhân trước ông đã từng chân nhận. Trong cảnh cô đơn tại đảo Hélène, ông suy nghĩ về sự phù du đời mình cũng như đời vua Louis XIV, khi ông viết “Đại đế này chết đã từ lâu, quần thần bỏ mặc, có khi còn bị khinh rẻ, nay nằm to vo một mình trong lăng mộ. Ông không còn là chủ tể của họ nữa. Chỉ còn là cái thây trong quan tài. Đó cũng là số phận của tôi. Chẳng bao lâu nữa, sắp tới nơi rồi. Thật xa cách nghìn trùng, giữa số phận khốn khổ của tôi so với Vương Quyền Chúa Giêsu hằng được cao rao, yêu mến, tôn thờ khắp vũ trụ”.

Hoặc bạn có muốn thêm chứng cứ nữa chăng ? Thì hãy đặt tay lên ngực mấy người quen rước lễ hằng ngày, tất sẽ thấy ngọn lửa tình yêu Chúa Giêsu nhóm lên tại đó. Hãy đến gõ cửa các Dòng nữ ẩn tu, như Dòng Cát Minh, Dòng Clara, để hỏi: “Tại sao các chị vào Dòng, có phải vì thất tình chăng ?” Lập tức các Chị trả lời: “Không, tôi vào đây không phải vì thất tình. Tôi chưa bao giờ thất bại về tình yêu. Mối tình đầu, cũng là mối tình duy nhất của tôi, đó là lòng kính mến Thiên Chúa, là Chúa của tôi.”

Tưởng không cần thêm chứng cứ nào nữa.

Chính sự khát khao một tình yêu toàn hảo, là cái dẫn ta đến Đấng đã dựng nên ta vì Ngài, và thiếu Ngài ta không thể hạnh phúc được. Ngài đã tìm kiếm trái tim hèn yếu của ta. Khác tất cả các trái tim đã từng sống động, Thánh Tâm Ngài đã được yêu mến trên hết mọi sự, hơn cả sự sống nữa. Ta có thể theo văn hào Pascal mà kết luận:“Chúa Giêsu đã muốn được người ta yêu mến. Ngài đã đạt, vậy Ngài là Thiên Chúa.”

Bây giờ, ta xét mặt khác về cuộc đời Chúa Giêsu: chính sự người ta ghét Ngài cũng minh chứng Ngài là Thiên Chúa. Ngài nói Ngài sẽ bị thế gian ghét bỏ cho đến ngày tận thế. Thế gian đây, phải hiểu là tinh thần thế tục, mâu thuẫn với tinh thần Phúc Âm.

Hãy nhớ lại các giai đoạn đời sống của Chúa. Ngài vừa sinh ra được bốn mươi ngày, Cụ già đáng kính Simêon đã nói với Đức Mẹ rằng Ngài sẽ là dấu hiệu gây sự chống đối. Điều ấy, Thánh Gioan sẽ diễn tả sau này: “Ngài đã đến trong thế gian, nhưng thế gian không tiếp nhận.”Ngài chưa được hai tuổi, thì quân lính vua Hêrôđê tuốt gươm hạ sát các Anh Hài vô tội, mà không hạ sát được Ngài. Đến tuổi trưởng thành, trước khi chịu nạn, Ngài nhìn thăm thẳm về những thế hệ tương lai, mà tiên báo là thế gian sẽ ghét Ngài. Mối thù ghét ấy theo sát bản thân Ngài, đến nỗi tất cả những kẻ yêu mến Ngài, cũng sẽ bị thế gian ghét bỏ nữa. Ngài nói: “Nếu thế gian ghét các con, thì hãy biết rằng, nó đã ghét Thầy trước. Nếu các con thuộc về thế gian thì thế gian đã yêu các con như kẻ thuộc về nó. Nhưng vì các con không thuộc về thế gian, và Thầy đã kéo các con ra khỏi thế gian, nên nó ghét các con. Hãy nhớ lời Thầy bảo các con: đầy tớ không hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, thì cũng sẽ bắt bớ các con… Họ sẽ làm mọi điều ấy vì cớ d anh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”

Vậy, Ngài sẽ bị người ta thù ghét. Thật là một lời tiên tri kỳ dị !


Ngài đã làm gì nên tội chứ ?

Ngài hiền hoà, khiêm nhượng hết lòng. Ngài hiến mạng để cứu dộ muôn dân. Phúc Âm của Ngài rao giảng sự thương yêu, đối với cả kẻ thù. Lúc hấp hối, Ngài tuyên bố tha thứ cho những kẻ giết hại Ngài. Người ta đã ghét Ngài vô cớ, như Ngài đã nói trước. Ngài chữa các thương tật, lại bị đả thương. Ngài cho kẻ chết sống lại, lại bị giết chết. Ngài cải ác khuyến thiện,mà lại bị đóng đinh thập giá. Ngài đem sự sống thần linh hoà giải loài người, mà bị kẻ thù hạ sát vũ nhục.

Còn những kẻ yêu mến Ngài, tại sao cũng bị ghét nữa ?

Họ phải sống nghèo như Ngài đã sống nghèo.Họ ước ao nên hoàn thiện như Cha trên Trời, và khiêm nhượng như Chúa Giêsu, là Đấng đã rửa chân cho họ. Họ vui mừng khi bị bách hại. Họ chúc phúc cho người trù rủa. Lời trù rủa ấy dường như chứng minh cho sự lương hảo của họ. Bùn nhơ kẻ xấu ném họ, dường như lại công nhận họ là người trong sạch.

Một đời sống như thế, một giáo lý như vậy, thật không có gì là đáng ghét. Vậy phải tìm lý do sự ghét dai dẳng ấy ở nơi khác.

Có kẻ cho Chúa Giêsu là phỉnh gạt, và Phúc Âm là gian dối. Nếu quả như thế, thì chúng tôi đã lầm, và kẻ kia có lý. Nếu sự ghét Chúa là chính đáng, thì nó phải canh tân xứ sở, cải hoá nhân tâm, làm nên những điều vĩ đại. Thành tích mỹ hảo của nó ở đâu ? Nó đã giải thoát dân nào khỏi đồi phong bại tục ? Nó đã khích lệ, an ủi được bao nhiêu tâm hồn? Đâu là Nữ Tu bác ái, Nữ Tu người nghèo của nó ? Sự ghét Chúa có sản sinh anh hùng tuẫn nghĩa, thiếu nữ đồng trinh, gia đình hạnh phúc chăng ?

Có biết bao người chết sầu não, bao linh hồn đói Bánh Trường Sinh, bao linh hồn tội lỗi cầu ơn tha thứ. Sự ghét Chúa có đem lại sự an ủi, nhân ái, an bình chăng ? Không !

Người ta gán cho Chúa Giêsu sự lừa gạt để ghét Ngài. Nhưng đó chưa phải là cội gốc đâu. Trải qua các thời đại, đã có quá nhiều nhà trí thức nghiên cứu về Đức Kitô và thờ lạy Ngài; nên không thể chấp nhận Ngài là kẻ lường gạt được.

Vậy giải thích sự hiềm khích kia thế nào ?

Phải tìm lý do trong một đức tính, mà chỉ một mình Ngài sở đắc. Chưa hề có người nào bị ghét cay ghét đắng cho bằng Chúa Giêsu. Chưa có Vị Giáo Tổ nào báo trước mình sẽ bị ghét, và thực tế đã bị ghét bỏ. Người ta không ghét Đức Phật, Đức Khổng hay Ông Mahômet. Một ít người bị ghét lúc sinh thời như Neron, Hốt Tất Liệt, hay Bismark. Nhưng ngày nay, còn có ai nghĩ đến ghét họ nữa !

Chẳng còn ai xúc phạm mộ Neron. Cũng chẳng còn ai sỉ mạ Bismark nữa. Họ chết là hết bị ghét. Cả hoàng đế nước Đức, sau thế chiến thứ 1, bị nhân dân và thế giới vũ nhục, nay cũng không còn ai ghét nữa.

Sự thù ghét đối với mọi người đã tiêu tan, mà sao đối với Chúa Giêsu vẫn tồn tại ? Đâu là lý do ?

Vậy, căn nguyên sự ghét là gì ? Đó là những cái ngăn cản thị dục người ta.
Tại sao người ta ghét hoàng đế Neron khi ông ta còn sống ? Là vì sự phóng dật của ông ta, ngăn cản dân Rôma thiết lập nền công bằng xã hội. Nay sự phóng dật ấy đã nát trong mồ, nên không ai ghét ông ta nữa.

Chẳng còn ai ghét, ai khinh Tibère, Domitien, Ivan và Nestorius nữa. Bởi vì không còn ai là những chướng ngại vật.

Nhưng về Chúa Giêsu thì khác hẳn.

Hai mươi thế kỷ đã qua, sự ghét Ngài vẫn chưa nguôi. Lý do: vì Ngài còn là một chướng ngại vật làm cản trở tội lỗi, tính ích kỷ, thuyết vô thần và tinh thần thế tục.
Tinh thần Đức Kitô còn tiếp tục hoạt động nơi những kẻ mến Ngài.

Ngài phản đối các dân không muốn nhìn nhận Thên Chúa.

Ngài quở trách kẻ ơ hờ bỏ việc cầu nguyện, kẻ tội lỗi không chịu sửa mình.
Ngài là Đấng Thiên Chúa, không chịu xuống khỏi thập giá, để được hoan hô nhất thời.
Ngài là tiếng nói thúc giục những tâm hồn bất an, từ bỏ tinh thần thế tục, để thủ đắc sự tự do của con cái Thiên Chúa.

Đức Kitô còn, thì sự thù ghét Ngài vẫn còn.

Nếu Ngài còn mãi, sống mãi, thì Ngài phải là Thiên Chúa.

Vì thế, môn đệ của Ngài còn bị bách hại, bao lâu tinh thần thế tục chưa bị tiêu trừ. Nhưng khi tinh thần ấy bị tiêu trừ thì chúng ta toàn thắng.

“Trong thế gian, các con sẽ đau khổ, nhưng hãy trông cậy, vì Thầy đã thắng thế gian.”Đó là lý do Giáo Hội bị người ta ghét.

Chúa chúng ta được yêu mến nồng nhiệt và ghét bỏ dữ dội, vì Ngài là Thiên Chúa. Người ta ghét Ngài, là bởi người ta ghét tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa. Giáo Hội là tổ chức thông ban sự sống của Thiên Chúa, nên mới bị thù ghét đến như vậy.

(…) Thời nay, nếu Bạn muốn gặp Chúa Giêsu, xin hãy tìm đến Giáo Hội, và Giáo Hội không chịu thích nghi với thế gian đâu.

Hãy tìm đến Giáo Hội mà thế gian ghét bỏ như nó ghét bỏ Chúa Giêsu. Giáo Hội bị tố cáo là lạc hậu như Chúa Giêsu bị tố cáo là vô học.

Hãy tìm đến Giáo Hội mặc dù Giáo Hôi bị khinh khi, vì Giáo Dân không có địa vị cao trong xã hội. Như người xưa đã chế nhạo Chúa Giêsu, vì là người Nadarét.

Hãy tìm đến Giáo Hội, mặc dù Giáo Hội bị tố cáo là quỷ ám, cũng như Chúa Giêsu bị tố cáo là đồ đệ của quỷ vương.

Có kẻ cuồng tín, chủ trương phải nhân danh Thiên Chúa mà huỷ Giáo Hội đi; cũng như xưa kẻ đóng đanh Chúa Giêsu tưởng làm như vậy là phụng sự Thiên Chúa.

Thế gian chối bỏ Giáo Hội khi Giáo Hội công bố mình bất khả ngộ, cũng như Philatô chối bỏ Chúa Giêsu, khi Ngài tuyên bố Mình là Chân Lý. Thế gian xua đuổi Giáo Hội như đã xua đuổi Chúa Giêsu. Nhưng Giáo Hội được con cái yêu mến, ngang với Chúa Giêsu, mặc dầu họ rất khác nhau về tư kiến.

Tiếng nói của Giáo Hội là tiếng nói của Đấng Sáng Lập.

Bạn hãy vâng nghe. Rồi bạn sẽ hiểu. Thế gian ghét Giáo Hội, vì Giáo Hội không thuộc về thế gian. Và nếu Giáo Hội không thuộc về thế giới này, thì thuộc về một thế giới khác. Và bởi Giáo Hội thuộc về thế giới khác, thì Giáo Hội được yêu mến vô cùng và cũng bị ghét bỏ vô cùng, như chính Đức Kitô vậy.

Nhưng chỉ có sự gì thuộc về Thiên Chúa, mới được yêu mến vô cùng, hoặc bị ghét bỏ vô cùng.

Vậy phải kết luận: Giáo Hội thuộc về Thiên Chúa, Giáo Hội là cuộc sống Đức Kitô kéo dài trong thế giới. Vì thế, chúng tôi yêu mến Giáo Hội, chúng tôi hy vọng được chết trên cánh tay lành thánh của Giáo Hội.

Trích chương XII “Yêu và ghét” trong tác phẩm Người Galilê muôn thuở của TGM Fulton Sheen.


Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Giáo hội làm hết sức mình để chống lại sự dữ


Chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI tại Leon, Mêhicô, đã được đón tiếp nồng nhiệt. Trên chuyến bay đến Mêhicô, Đức Thánh Cha đã kêu gọi đấu tranh chống lại «chứng tâm thần phân lập» trong đời sống đức tin.

Đối diện với bi kịch của nền kinh tế bạo lực của ma túy, làm cho hàng chục ngàn người trở thành nạn nhân, Đức Thánh Cha đã gợi lên «trách nhiệm lớn lao của Giáo Hội». Giáo Hội phải «làm hết sức mình chống lại sự dữ». Điều này được thực hiện với sự trợ giúp của hai cột trụ : «loan báo Thiên Chúa» và «giáo dục lương tâm». Vì «Thiên Chúa là thẩm phán của điều lành và điều dữ», và Giáo Hội phải «giáo dục các lương tâm chống lại sự tôn thờ tiền bạc, những lời hứa giả trá và những gian dối làm nô lệ con người». Vì con người «cần đến vô biên», nên «Thiên Chúa phải được làm cho hiện diện với hết mọi người trong sự nhân từ của Ngài».

Liên quan đến vấn đề nhạy cảm về vai trò của Giáo Hội trong việc cổ võ công bằng xã hội, Đức Thánh Cha nói : «Giáo Hội phải luôn tự hỏi liệu mình làm tất cả những gì mình có thể hay chưa». Cho dầu Giáo Hội «không phải là một quyền lực chính trị, cũng không phải là một đảng phái, nhưng là một thực tại luân lý», nhưng Giáo Hội «có điều gì đó phải làm với chính trị», trong chiều kích luân lý của chính trị. Từ đó Đức Thánh Cha kêu gọi «giáo dục lương tâm» để «vượt lên chứng tâm thần phân liệt» mà, theo ngài, chạm đến nhiều người Công giáo, giữa «chiều kích cá nhân» của đức tin và «chiều kích tập thể» của nó. Đối với ngài, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở chiều kích cá nhân mà thôi.

Về vấn đề Cuba, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đứng trong đường hướng của Đức Gioan-Phaolô II: «Cuba phải mở ra cho thế giới và thế giới phải mở ra cho Cuba». Từ thời Đức Gioan-Phaolô II đến nay đã mở ra «một con đường đối thoại lâu dài, có tính xây dựng, cần có sự kiên nhẫn». Về lý tưởng mar-xít, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bày tỏ lập trường rõ ràng rằng : «Như nó đã từng được cưu mang, nó không còn đáp ứng cho thực tại nữa». Đức Thánh Cha kêu gọi giúp tìm ra những mô hình mới trong tinh thần đối thoại, bằng cách tránh đi những vết thương, để xây dựng tình huynh đệ. Về tự do lương tâm và tôn giáo, Đức Thánh Cha cho biết «Giáo Hội đứng về phía tự do».

Đến phi trường Leon, trước 3000 bạn trẻ náo nức đón tiếp ngài, trước sự hiện diện của Tổng thống nước Mêhicô, Đức Thánh Cha đã nói rằng: «Tôi đã đến với tư cách là người lữ hành đức tin, đức cậy và  đức mến». Đức tin để các tín hữu có thể «là men trong xã hội khi đóng góp vào việc chung sống tôn trọng và hòa bình đặt cơ sở trên phẩm giá bất khả sánh của mọi nhân vị, được Thiên Chúa tạo dựng, và không có quyền lực nào có quyền quên hay hạ giá». Đức cậy để các tín hữu «nỗ lực biến đổi các cơ cấu và các biến cố khó chịu đang tồn tại, mà có vẻ bất biến và bất khả vượt qua, bằng cách trợ giúp những ai không tìm thấy ý nghĩa lẫn tương lai trong cuộc sống». Và đức mến, vì Giáo Hội «không muốn gì khác hơn là, cách vô vị lợi và cách tôn trọng, làm ích cho người túng thiếu…»

Tý Linh
Theo La Croix

Tòa thánh: “Nhiệm vụ của Chính phủ không phải là xác định tôn giáo hay công nhận giá trị của tôn giáo”



Ngày 27-2-2012, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã khai mạc khoá họp lần thứ 19 tại Geneva, Thuỵ Sĩ, với sự tham gia của hơn 80 bộ trưởng cùng nhiều quan chức cấp cao từ các quốc gia thành viên và đại diện các tổ chức quốc tế. Khoá họp kéo dài trong 4 ngày.

Phái đoàn Toà Thánh đã tham gia Khoá họp này với tư cách Quan sát viên Thường trực tại Liên Hợp Quốc. Ngày 1-3, Đức Tổng Giám mục Silvano M. Tomasi đã có bài phát biểu tại Hội đồng như sau:
silvano_m_tomasi_vatican_un.jpg
Thưa bà chủ tịch,
Ngày nay việc thực hiện quyền con người là một thách đố khó khăn, đặc biệt là đối với các quyền cơ bản và bất khả nhượng như “tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo hay tín ngưỡng”.
Trong nhiều yếu tố, những thay đổi chính trị, nhận thức sai lầm về vai trò của tôn giáo, thủ đoạn, và sự hiểu biết mơ hồ về chủ nghĩa thế tục đã dẫn đến tình trạng bất bao dung và thậm chí đàn áp thẳng tay con người vì niềm tin tôn giáo. Quyền tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình trong việc giảng dạy, hành đạo, việc thờ phượng và tuân giữ luật đạovốn được đảm bảo bởi luật nhân quyền và các tổ chức quốc tế, lại bị coi thường tại nhiều nơi trên thế giới. Những chính sách và áp dụng ngột ngạt như vậy khiến cho nhiều công dân muốn đóng góp vào đời sống xã hội và sự tiến bộ ở đất nước họ phải gặp nguy hiểm. Tòa Thánh đánh giá cao việc Hội đồng Nhân quyền thường xuyên quan tâm đến vấn đề chính yếu này cũng như những nỗ lực liên quan và các quyết định do Cơ quan Thủ tục đặc biệt ban hành.
Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, khoảng cách đang gia tăng giữa các nguyên tắc được mọi người nhìn nhận và việc áp dụng chúng nơi người dân trong đời sống hằng ngày. Những nghiên cứu nghiêm túc đưa ra các dữ liệu đáng tin cậy về các kiểu vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo hiện nay lặp đi lặp lại. Kitô hữu không phải là nạn nhân duy nhất, nhưng các cuộc tấn công khủng bố nhắm vào các Kitô hữu ở châu Phi, Trung Đông và châu Á đã gia tăng 309% từ năm 2003 đến 2010. Khoảng 70% dân số thế giớisống tại các quốc gia có những hạn chế về tín ngưỡng tôn giáo và hành đạọ, và các cộng đồng tôn giáo thiểu số phải trả giá đắt nhất.
Nói chung, việc gia tăng những hạn chế về tôn giáo có ảnh hưởng đến hơn 2,2 t người. Những ngườinày hoặc không được xã hội bảo vệ, hoặc phải chịu những hạn chế bất công do chính phủ áp đặt, hoặc trở thành nạn nhân của bạo lực do một sự mù quáng bốc đồng. Hiển nhiên là cộng đồng quốc tế cần nỗ lực hơn nữa để bảo vệ mọi người được hưởng quyền tự do tôn giáo và thực hành tôn giáo. Hành động như vậy càng cấp bách vì trong nhiều quốc gia tình hình đang xấu đi và vì báo cáo thực tế về các vi phạm này bị coi nhẹ, mặc dù thực tế, nó cần được nhấn mạnh trong các báo cáo thích đáng.
Tuyên ngôn về Quyền Con người chỉ cho thấy tôn trọng nhân phẩm của mọi người là nền tảng để xây dựng việc bảo vệ quyền con người. Trong hoàn cảnh hiện naycần nhắc lại rằng các quốc gia phải bảođảm cho mọi công dân của họ được hưởng quyền tự do tôn giáo trên phương diện cá nhân, gia đình,cũng như cộng đồng, và tham gia vào lĩnh vực công cộng. Trên thực tế, tự do tôn giáo không phải là một quyền phát sinh, hoặc được ban phát, mà là một quyền căn bản và bất khả nhượng của con người.Không được coi niềm tin tôn giáo là có hại hoặc mang tính tấn công chỉ vì nó khác với đa số. Nhiệm vụ của Chính phủ không phải là xác định tôn giáo hay công nhận giá trị của nó, nhưng là trao cho các cộng đồng tôn giáo tư cách pháp nhân để họ có thể hoạt động một cách hoà bình trong khuôn khổ luật pháp. Tôn trọng tự do tôn giáo của mọi người có thể bị đe dọa ở những nơi mà khái niệm “tôn giáo nhà nướcđược công nhận, đặc biệt khi tôn giáo nhà nước trở thành nguồn gốc của đối xử bất công với người khác, dù là người có niềm tin tôn giáo khác hoặc người không tin.
Ngoài những vấn đề về từ thiện, vấn đề gay cấn đối đầu với việc cổ vũ và bảo vệ quyền con người tronglĩnh vực tự do tôn giáo là sự bất bao dung - vốn dẫn đến bạo lực và giết hại nhiều người vô tội hằngnăm đơn giản chỉ vì niềm tin tôn giáo của họ. Do đó, trách nhiệm chung và thực tế là duy trì sự khoan dung lẫn nhau và tôn trọng các quyền con người và bình đẳng hơn nữa giữa các công dân thuộc các tôn giáo khác nhau để đạt được một nền dân chủ lành mạnh - trong đó, vai trò chung của tôn giáo và sựphân biệt giữa các tôn giáo và các lĩnh vực thế tục được công nhận. Trong thực tế cuộc sống, khi đượcsống trong bối cảnh chấp nhận lẫn nhau, các quan hệ giữa đa số và thiểu số cho phép mọi người hợp tác và thỏa thuận với nhau, đồng thời mở đường cho sự cùng tồn tại hòa bình và xây dựng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu mong muốn này, cần phải vượt qua một nền văn hoá hạ thấp giá trị con người và có ý định loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống công cộng. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã mô tả rõ tình trạng này: Đáng buồn thay, tại một số quốc gia, chủ yếu là ở phương Tây, người ta ngày càng ít gặp -trong giới chính trị và văn hoá, cũng như trong các phương tiện truyền thông - sự tôn trọng và có khi lại là thù địch, nếu không nói là khinh miệt, đối với tôn giáo và nhất là đối với Kitô giáo. Rõ ràng là nếu chủ thuyết tương đối được coi như một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, thì có nguy cơ người ta sẽ coi chủ nghĩa thế tục theo nghĩa loại trừ, hay chính xác hơn, phủ nhận tầm quan trọng xã hội của tôn giáo. Nhưng một cách tiếp cận như vậy sẽ tạo ra sự đối đầu và chia rẽ, làm rối loạn bình an, gây hại cho môi sinh của con người và nói chung, một khi loại trừ những cách tiếp cận khác với cách của mình, thì sẽ kết thúc trong một điểm chết. Vì thế, cần cấp thiết phác hoạ một chủ nghĩa thế tục tích cực và cởi mở, căn cứ trên quyền tự chủ chính đáng của quyền thế tục và quyền thiêng liêng, có thể thúc đẩy sự hợp tác lành mạnh và một tinh thần chia sẻ trách nhiệm”.
Thưa Bà Chủ tịch,
Tôn giáo không phải là một mối đe doạ, nhưng là một nguồn lựcTôn giáo góp phần vào sự phát triển của các nền văn minh, và điều ấy tốt cho mọi người. Các hoạt động và tự do tôn giáo cần được bảo vệ để sự hợp tác giữa các tôn giáo và xã hội có thể thăng tiến công ích. Một nền văn hoá khoan dung, chấp nhận lẫn nhau và đối thoại là cấp bách. Hệ thống giáo dục và truyền thông đóng vai trò quan trọng bằng cách loại bỏ thành kiến ​​và hận thù khỏi sách giáo khoa, tin tức và báo chí, và phổ biến thông tin chính xác và công bằng về mọi nhóm thành phần trong xã hội. Tuy nhiên, việc thiếu giáo dục và thông tin, vốn tạo điều kiện cho người ta dễ dàng thao túng con người để hưởng lợi về chính trị, lại thường liên quan đến tình hình kém phát triển, nghèo đói, thiếu tham gia quản lý xã hội một cách hiệu quả.
Một môi trường công bằng xã hội hơn sẽ là mảnh đất màu mỡ cho việc thực hiện mọi quyền của con người. Các tôn giáo là những cộng đồng dựa trên niềm tin và tự do tôn giáo bảo đảm sẽ đóng góp cácgiá trị đạo đức mà nếu không có các giá trị này thì cũng chẳng có tự do của mọi người. Vì lý do đó, trách nhiệm cấp bách và giúp ích của cộng đồng quốc tế là chống lại khuynh hướng gia tăng bạo lực vớicác nhóm tôn giáo cũng như chống lại điều sai lầm và thái độ trung lập giả trá nhằm mục đích trung lập hoá tôn giáo trong thực tế.
Xin cảm ơn Bà Chủ tịch.
(Vatican Radio, 02-03-2012)
Huy Hoàng
WHD