Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo hội VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo hội VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Cuộc đưa tiễn đầy xúc động dành cho bà mẹ trẻ người Ý, người đã hy sinh tính mạng cho đứa con chưa sinh


(Rôma, 26-6-2012, CNA) – Hàng trăm người Ý đã đến Nhà thờ Thánh Francisca Romana tại Rôma vào ngày 16-6 để tham dự Thánh lễ An táng của Chiara Corbella, một phụ nữ Công giáo qua đời sau khi trì hoãn việc điều trị ung thư để bảo vệ đứa con cô đang cưu mang.

Bệnh ung thư của Chiara tiến triển nhanh chóng và cuối cùng cô mất thị giác một bên mắt.

Lúc 28 tuổi, Chiara kết hôn với Enrico Petrillo trong hạnh phúc. Họ đã phải chịu đựng sự ra đi của 2 đứa con David và Maria, qua đời vì dị tật bẩm sinh, trong những năm gần đây. Đôi vợ chồng này đã trở thành những chứng nhân nổi tiếng tại các sự kiện bảo vệ sự sống, trong đó họ chia sẻ chứng từ về ít phút ngắn ngủi họ có được với các con của mình, trước khi các bé lìa đời.
Vào năm 2010, Chiara mang thai lần thứ ba. Theo các bác sĩ thì đứa bé phát triển bình thường. Tuy nhiên, Chiara được chẩn đoán mắc bệnh ung thư ác tính và được khuyên nên bắt đầu cuộc điều trị, có thể gây nguy hiểm cho thai nhi.
Chiara đã quyết định bảo vệ em bé – có tên là Francisco – và chọn không điều trị cho đến sau khi sinh bé, chào đời ngày 30-5-2011. Bệnh ung thư của Chiara tiến triển nhanh chóng và cuối cùng cô mất thị giác một bên mắt. Sau một năm dài chiến đấu với căn bệnh, Chiara qua đời vào ngày 13-6, bên cạnh những người thân yêu, và cô tin rằng mình sẽ được đoàn tụ với 2 đứa con trên thiên đàng. “Mẹ sẽ lên thiên đàng để chăm sóc cho Maria và David, con ở lại với bố. Mẹ sẽ cầu nguyện cho con”, Chiara viết trong một lá thư để lại cho Francisco, viết 1 tuần trước khi cô qua đời.
Thánh lễ An táng được ĐHY Agostino Vallini, Tổng Đại diện của Rôma, cử hành. Ngài gợi lại Chiara là “Gianna Beretta thứ hai”, vị thánh ở thế kỷ 20, đã hy sinh tính mạng của mình trong hoàn cảnh tương tự để cứu em bé trong bụng.
Trong bài giảng lễ, Cha Vito, linh hướng của Chiara, nhắc đến Chiara như một người phụ nữ trẻ dám liều mạng sống mình, cốt để làm gương cho các phụ nữ đang mang thai khác, “một bằng chứng có thể cứu sống rất nhiều người”.
Enrico, chồng của Chiara, nói rằng anh đã trải nghiệm “một câu chuyện tình yêu trên thập giá”. Phát biểu với Đài Phát thanh Vatican, anh nói rằng vợ chồng anh đã học được nơi 3 đứa con của mình rằng không có sự khác biệt giữa một cuộc sống chỉ vỏn vẹn có 30 phút hay kéo dài 100 năm. “Thật tuyệt vời khi khám phá ra tình yêu này, nó ngày càng lớn hơn nhiều khi phải đối mặt với rất nhiều vấn đề”, anh nói.
“Chúng tôi càng yêu nhau và càng yêu Chúa Giêsu nhiều hơn. Chúng tôi không bao giờ thất vọng trong tình yêu này, và vì lý do đó, chúng tôi không bao giờ bỏ lỡ thời gian, mặc dù những người xung quanh chúng tôi nói rằng “hãy chờ đợi, đừng vội có một đứa con khác”, Enrico nói.
Thế giới ngày nay cổ vũ mọi người đưa ra những lựa chọn sai lầm về hài nhi chưa được sinh ra, về người bệnh và người cao tuổi – anh lưu ý – “nhưng Chúa đáp lại bằng những câu chuyện như của chúng tôi”.
“Chúng ta muốn luận bàn về sự sống, về người tác thành nên nó, và do đó, cuối cùng, chúng ta tự làm lẫn lộn trong việc muốn trở thành người làm chủ sự sống và muốn tránh thánh giá Chúa gửi đến chúng ta”, anh nói tiếp.
“Sự thật là thánh giá này – nếu bạn vác cùng với Chúa Kitô – không đáng sợ như nó vốn có. Nếu bạn tin tưởng vào Chúa, bạn sẽ phát hiện ra rằng ngọn lửa này, thánh giá này không cháy bỏng, và bạn có thể tìm thấy sự bình an trong đau khổ và niềm vui trong cái chết”, Enrico giải thích.
“Tôi đã dành rất nhiều thời gian trong năm nay để suy gẫm cụm từ trong Tin Mừng nói rằng thánh giá Chúa trao thì êm ái và gánh thì nhẹ nhàng”. Khi nhìn Chiara lúc cô ấy hấp hối, rõ ràng tôi đã rất đau khổ. Nhưng tôi đã lấy hết sự can đảm và một vài giờ trước khi cô ấy ra đi – vào khoảng 8 giờ sáng, Chiara mất vào buổi trưa – tôi đã hỏi cô ấy.
Tôi hỏi: “Chiara thân yêu, có phải thánh giá này thật sự êm ái, như Chúa đã nói không? Cô ấy nhìn tôi và mỉm cười, và với một giọng nói nhẹ nhàng, cô ấy nói: “Đúng vậy, Enrico, nó rất êm ái”. Trong ý nghĩa này, cả gia đình không thấy Chiara ra đi một cách bình an, nhưng ra đi một cách vui vẻ, điều này khác hoàn toàn”, Ernico kể lại.
Khi con trai tôi lớn lên – anh nói thêm – tôi sẽ nói cho cậu bé biết rằng “thật đẹp biết bao khi để mình được Thiên Chúa yêu thương, bởi vì nếu con cảm nhận mình được yêu thương, thì con có thể làm được bất cứ điều gì”, và đây là “điều quan trọng nhất trong cuộc sống: để mình được yêu thương chính là để yêu thương và chết đi trong hạnh phúc”.
“Tôi sẽ nói với con trai tôi rằng đó là những gì mẹ của con, Chiara, đã làm. Chiara đã để mình được yêu thương, và trong một nghĩa nào đó, tôi nghĩ rằng cô ấy yêu thương tất cả mọi người theo cách này. Tôi cảm nhận cô ấy vẫn còn sống hơn bao giờ hết. Đối với tôi, được chứng kiến việc cô ấy ra trong hạnh phúc là một khoảnh khắc đáng nhớ cho đến chết”.
Mai Trang
Nguồn: EMTY

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Diễn từ của TGM Leopoldo Girelli tại lễ khai mạc Năm Đức Tin của Giáo hội VN

Cuối thánh lễ khai mạc Năm Đức Tin của Giáo hội Việt Nam tại Thanh Hoá ngày 12/10/2012, Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli có một bài diễn từ quan trọng cho Giáo hội Việt Nam, trong đó ngài kêu gọi tự do tôn giáo. 

Gợi ý về việc sống đạo trong Năm Đức Tin, ngài cho rằng sống niềm tin không chỉ dừng lại việc cử hành bên ngoài mà còn phải đi vào chiều sâu nội tâm. 

Khi liên tưởng đến ngôi tháp của nhà thờ chính toà Thanh Hoá, ngài ví "niềm tin của con người như một khát vọng hướng về trời cao". 


Sau khi “đánh giá cao sự cộng tác của chính quyền địa phương với giáo phận Thanh Hoá”, ngài ước mong các giáo phận khác cũng được như thế. 


Đặc biệt, vị Sứ thần Toà Thánh kêu gọi mở rộng “tự do tôn giáo”, mong sao Giáo hội Công giáo Việt Nam, cùng với các tôn giáo khác, được nhiều tự do hơn để sống niềm tin của mình. 


Ngài nói rằng “những giới hạn bên ngoài” không giới hạn được “sự tự do bên trong”, nơi đó con người được hiệp thông với Thiên Chúa. 


Với người tín hữu Việt Nam, ngài mời gọi họ dấn thân cho công cuộc tân Phúc Âm hoá, và noi gương các thánh tử đạo Việt Nam, những người đã hi sinh cả mạng sống mình để trung thành với đức tin.

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Lễ khai mạc Năm Đức Tin của Giáo hội Việt Nam



GPVO - 31 giám mục, hàng trăm linh mục và hàng chục ngàn giáo dân đã tham dự lễ khai mạc Năm Đức Tin của Giáo hội Việt Nam tại giáo phận Thanh Hoá ngày 12/10/2012, một ngày sau lễ khai mạc của Đức Giáo hoàng ở Roma.

Buổi lễ bắt đầu lúc 8:30, do Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng giám mục Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, chủ sự.

Một niềm vui lớn là buổi lễ này có sự hiện diện của Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện không thường trú của Toà Thánh tại Việt Nam. Ngoài ra, còn có một giám mục đến từ Hàn Quốc.

Số lượng tín hữu đông đảo đến từ các giáo phận trong nước và có cả cộng đoàn tín hữu Việt Nam hải ngoại, tạo nên một sự hiệp thông rất cụ thể.

Lượng người tham dự đông hơn nhiều so với số người dự lễ do Đức giáo hoàng Benedicto XVI chủ sự ở Roma ngày hôm qua.


Trước thánh lễ, cộng đoàn phụng vụ nghe trích đọc tự sắc
Porta Fidei của Đức giáo hoàng. Sau đó, Đức cha Chủ tịch HĐGMVN tuyên bố "Năm Đức Tin tại Giáo hội Việt Nam bắt đầu từ ngày 12/10/2012".


Và ba vị tổng giám mục của ba giáo tỉnh Hà Nội, Huế, Sài Gòn tiến lên mở cánh cửa năm thánh.


Đại diện Toà Thánh thắp sắng ngọn lửa đức tin

Đương đầu với cuộc khủng hoảng đức tin
Trong bài giảng, Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên đề cập đến "các cơn khủng hoảng trong nhiều lãnh vực như kinh tế, văn hóa, gia đình và luân lý", và cho rằng "nguyên nhân sâu xa của các cơn khủng hoảng này là do khủng hoảng đức tin".
Điều này được minh hoạ bằng lời của Đức giáo hoàng: “Chúng ta đang phải đối diện với một cuộc khủng hoảng đức tin sâu xa, một sự mất ý thức tôn giáo là điều tiêu biểu cho một trong những thách thức lớn nhất đối với Giáo Hội ngày nay”. 
Vị giám mục của giáo phận Hải Phòng dẫn giải: Đức tin “không phải là một mớ những công thức hay lý thuyết suông, nhưng là cuộc gặp gỡ với một Đấng, một Con Người. Đó là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa [...] Nhờ có đức tin vững vàng, chúng ta có thể đứng vững trước những thử thách và phong ba bão táp của cuộc đời”.
Ngài cho rằng vẫn còn tình trạng “đức tin bị giới hạn trong nhà thờ và trong một số nghi thức phụng vụ”. Và điều lý tưởng là đức tin phải “chi phối trọn vẹn tư tưởng, lời nói và việc làm” của người tín hữu.
Về phương diện xã hội, vị giảng lễ nhận xét: “Trong xã hội Việt Nam hôm nay, bên cạnh những tiến triển khả quan đáng mừng, vẫn còn đó một tình trạng đáng lo ngại: những vụ việc chém giết, cướp bóc, lừa lọc ngày càng gia tăng. Những vấn đề như phá thai, ly dị, tội phạm nơi vị thành niên ngày càng nghiêm trọng. Tiếc rằng, những vụ việc trên đôi khi cũng xảy ra nơi người Công giáo.”
“Trong một xã hội nhiều tiêu cực như thế, thay vì lên án phê bình, người Công giáo chúng ta hãy tự hỏi: tôi có thể làm gì để bớt đi những tội ác và tệ nạn trong xã hội?
Đó quả thực là một thách đố lớn cho người tín hữu Việt Nam.

Đức tin giống như ngọn tháp hướng lên trời cao
Bài phát biểu của vị đại diện Toà Thánh
Cuối thánh lễ, Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli có một bài diễn từ quan trọng cho Giáo hội Việt Nam.
Gợi ý về việc sống đạo trong Năm Đức Tin, ngài cho rằng sống niềm tin không chỉ dừng lại việc cử hành bên ngoài mà còn phải đi vào chiều sâu nội tâm.
Khi liên tưởng đến ngôi tháp của nhà thờ chính toà Thanh Hoá, ngài ví "niềm tin của con người như một khát vọng hướng về trời cao".
Sau khi “đánh giá cao sự cộng tác của chính quyền địa phương với giáo phận Thanh Hoá”, ngài ước mong các giáo phận khác cũng được như thế.
Đặc biệt, vị Sứ thần Toà Thánh kêu gọi mở rộng “tự do tôn giáo”, mong sao Giáo hội Công giáo Việt Nam, cùng với các tôn giáo khác, được nhiều tự do hơn để sống niềm tin của mình.
Ngài nói rằng “những giới hạn bên ngoài” không giới hạn được “sự tự do bên trong”, nơi đó con người được hiệp thông với Thiên Chúa.
Với người tín hữu Việt Nam, ngài mời gọi họ dấn thân cho công cuộc tân Phúc Âm hoá, và noi gương các thánh tử đạo Việt Nam, những người đã hi sinh cả mạng sống mình để trung thành với đức tin.
Nhà ngoại giao người Italia dùng những từ ngữ khá “ngoại giao”, thẳng thắn và cởi mở; và cho rằng những lời của mình “không phải là không thể nghe được”.
Phát biểu của vị đại diện Toà Thánh thực sự gây bất ngờ cho cử toạ cũng như giới quan sát.  

Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1953 tại Predore, tỉnh Bergamo, Italia, lãnh chức linh mục ngày 17 tháng 6 năm 1978 thuộc giáo phận Bergamo, tốt nghiệp Học viện Ngoại giao Tòa Thánh, được tấn phong giám mục ngày 17 tháng 6 năm 2006, hiện đảm nhận nhiều chức vụ ngoại giao của Tòa Thánh tại khu vực Đông Nam Á bao gồm: Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore, Sứ thần Tòa Thánh tại Malaysia, Khâm sứ Tòa Thánh tại Brunei Darussalam, Đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam và Sứ thần Tòa Thánh tại Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Trước thánh lễ, người viết có nói chuyện với cha Andrea, thư ký của Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, và được biết rằng cha thư ký thường xuyên ở Việt Nam, nhờ đó vị đại diện Toà Thánh am hiểu khá rõ về tình hình Việt Nam.

Buổi lễ khai mạc Năm Đức Tin của Giáo hội Việt Nam kết thúc hồi 11:30.

Hôm nay, Giáo hội Việt Nam cùng hiệp thông với giáo phận Thanh Hoá dâng thánh lễ tạ ơn nhân dịp giáo phận này kỷ niệm 80 năm thành lập, đồng thời khánh thành trung tâm mục vụ và lễ đài của giáo phận.

John Phạm

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

Lễ khai giảng năm học mới của sinh viên Công giáo Vinh



GPVO – 16:30 ngày 23/9/2012, Đức cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp, giám mục giáo phận Vinh, đã đánh một hồi trống dài khởi đầu cho năm học mới của sinh viên Công giáo đang học tại các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề ở thành phố Vinh, Nghệ An.




Trước đó, vào lúc 3 giờ chiều, khoảng 1000 bạn trẻ đã tập họp quanh vị giám mục của mình tại tiền sảnh nhà thờ Yên Đại để khai giảng năm học 2012 – 2013.

Trên hàng ghế danh dự, chúng tôi thấy có sự hiện diện của các linh mục FX Hoàng Sĩ Hướng, trưởng ban giới trẻ, Ant Hoàng Trung Hoa, đặc trách sinh viên, Giuse Hoàng Thái Lân, trưởng ban giáo dân, Gioan Phạm Quang Long, trưởng ban truyền thông.

Ngoài ra, còn có khá đông nữ tu của các hội dòng Mến Thánh Giá, Thừa sai Bác ái và Thouret, cùng đông đảo bà con giáo dân trong vùng. Nhà thờ Yên Đại lúc này trở nên quá nhỏ bé so với số lượng người tham dự, do đó tất cả sinh hoạt được diễn ra ở sân nhà thờ.

Về hội sinh viên Công giáo Vinh


Sinh viên Công giáo tại thành phố Vinh hiện có gần 2000 thành viên, chia ra thành 15 nhóm. Mỗi tuần một lần, các nhóm tổ chức sinh hoạt, trong đó các bạn cùng đọc và chia sẻ lời Chúa, trao đổi những vấn đề học tập và cuộc sống, tập hát thánh ca và các bài hát sinh hoạt tập thể.

Các buổi sinh hoạt ban đầu được thực hiện ở nhà riêng, nhưng thường bị quấy rối bởi những nhóm côn đồ tự nhận là “quần chúng tự phát”, nên sau đó phải tổ chức ở các nhà thờ Cầu Rầm, Tân Lộc, Lập Thạch, Làng Anh và An Hậu.

Có vẻ như còn lâu các bạn mới có được một không gian yên bình để tổ chức những buổi sinh hoạt với tư cách là những sinh viên Công giáo.

Ngoài việc học hành, nhiều bạn trẻ còn tham gia học và dạy giáo lý, ca đoàn, thu gom ve chai gây quĩ, làm việc bác ái từ thiện, thăm viếng người bệnh và giúp an táng các thai nhi.

Các bạn cũng đã tạo cho mình một website riêng, svconggiaovinh.org, nơi đăng tải thông tin hoạt động của hội.

Lời nhắn của các mục tử

Trong bài phát biểu tại buổi lễ, cha Antôn Hoàng Trung Hoa đã mượn lời của Đức cha Tôma Vũ Đình Hiệu, Chủ tịch Ủy ban Giáo dục Công giáo của HĐGM/VN, mời gọi các bạn sinh đừng xem nhẹ việc đào tạo đạo đức và nhân cách: “Nếu ông chủ bà chủ trong tương lai mà thiếu đạo đức, thì thế giới vật chất này sẽ đè bẹp con người đến mức nào. Vì thế, với tinh thần năm đức tin, chúng ta có trách nhiệm không ngừng phát huy về mặt tri thức như vốn được nhắc nhở, thì chúng ta còn cần phải trau dồi cho mình trở thành người có đức tin vững vàng.”

Cha đặc trách sinh viên nhắc các bạn trẻ nghiêm túc học tập mới có thể phục vụ xã hội sau này. “Trong xã hội được lãnh đạo bởi những con người có bằng cấp giả, thậm chí bằng cấp thật mà kiến thức lại không thật, thì nếu chúng ta chống trả lại thị trường rẽ mạt của bằng cấp, mà thay vào đó là gắng sức để có kiến thức thật, bằng cấp thật, con người thật, thì chính lúc đó chúng ta thực sự xây dựng xã hội cách hiệu quả nhất, cũng như đang làm chứng cho Đức Kitô trong môi trường của mình”.

Cha FX Hoàng Sĩ Hướng khuyến khích các bạn sinh viên gia tăng học hỏi về tri thức lẫn giáo lý theo châm ngôn của thánh Anselmo mà các bạn đã chọn làm quan thầy “đức tin tìm hiểu lý trí”, “để các bạn có thể sống đức tin như một người trí thức, và sinh hoạt tri thức với tư cách là một người có đức tin”.

Trong khi đó, cha Giuse Hoàng Thái Lân nói rằng ngài sẵn sàng đồng hành với các bạn sinh viên trong tư cách là linh mục quản xứ trong vùng, và hứa chuẩn bị cho các bạn có những chỗ sinh hoạt an toàn.

Về phần mình, Đức cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp tỏ ra vui mừng được hiện diện với sinh viên trong ngày khai trường. Ngài kêu gọi các bạn trẻ phải dành thời giờ để học hành, đó là công việc chính, bỏ đi những công việc bên lề, không cần thiết.

“Đây là thời đại của tri thức và khoa học, người ta phải làm giàu bằng chất xám; bởi vì như một câu nói trong dân gian: Nhà giàu ở quê không bằng làm thuê trên tỉnh”.

Trong bài giảng, vị giám mục từng là giáo sư các đại học Công giáo quốc tế khuyên các bạn đừng ham hố quyền lực hay danh vọng. Là bạn học với nhau trong một mái trường thì phải có tinh thần hiệp nhất, không phân biệt địa phương hay chia bè phái. Người trẻ cần phải có tinh thần đơn sơ, trong sáng và chân thực. Các bạn cần cố gắng hơn nữa để trở nên những tri thức Công giáo trong tương lai.

Vị chủ chăn giáo phận cũng không quên cám ơn các gia đình tại hai giáo xứ Cầu Rầm và Yên Đại, đã cưu mang các sinh viên, và ngài kêu gọi họ tiếp tục giúp đỡ để các bạn trẻ an tâm học hành.

Buổi lễ khai giảng kết thúc bằng một bữa ăn buffet đạm bạc nhưng thân tình. 

Các bạn sinh viên Công giáo Vinh thực sự đã có một ngày hội ngộ thật vui tươi, nồng ấm và đạo đức, như khẩu hiệu họ mang trên mình: Sinh viên Công giáo Vinh – hiệp nhất, tin yêu và phục vụ.




Trong khi đó, cùng ngày tại Sài Gòn, các bạn sinh viên Công giáo Giáo phận nhà cũng đã có buổi lễ khai giảng và đón tiếp tân sinh viên tại trụ sở Giáo phận ở 32 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1.

Nhấn vào đây để xem bản tin >>Ngày gặp gỡ giao lưu sinh viên giáo phận Vinh tại Miền Nam nhân dịp đầu năm học.

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Cuộc trở về nơi "xứ lạ" của Phó Thủ tướng Đức Philipp Rösler


Berlin – Không kể cuộc thăm viếng Việt Nam trước theo tính cách cá nhân với gia đình (năm 2006) để tìm về cội nguồn thì lần này vào trung tuần tháng 9 năm 2012 của phó thủ tướng Đức Philipp Rösler theo cấp cao nhà nước và dẫn theo một phái đoàn đầu tư kinh tế của chính phủ Đức gồm 80 doanh nhân đến thăm Việt Nam từ ngày 17 đến ngày 19/9, một tờ báo Đức đã đưa tựa đề "Cuộc trở về một quê hương xa lạ (Fremde Heimat)" để nói về vị phó thủ tướng Đức gốc Việt Nam.

Từ tháng 5 năm 2011 Phó thủ tướng Đức Philipp Rösler đang kiêm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Kinh tế và Công nghệ của nước Đức (Bundesminister für Wirtschaft und Technologie, Bundesvorsitzender der FDP und deutscher Vizekanzler), đồng thời là chủ tịch đảng FDP (Đảng Tự Do Dân chủ). Ông Philipp Rösler đang là vị Phó thủ tướng thứ 16 của Đức từ năm 1949, sau chiến tranh thế giới II và là vị Phó thủ tướng trẻ nhất của Đức chỉ mới 39 tuổi. 
Như thế nhìn về thế lực chính trị thì ông Philipp Rösler là một người gốc Việt Nam đang có quyền lực chính trị cao nhất trong khối người Việt Nam sống tại hải ngoại. Vi dụ trong mùa hè 2012 vừa qua khi nữ thủ tướng Merkel đi nghỉ hè ngoài nước Đức thì Phó thủ tướng Đức Philipp Rösler đã thay mặt điều hành nội các chính quyền Đức tại Berlin: trong lúc này ông họp nội các cho thông qua 6 dự luật quốc gia của chính phủ Đức. Cuối tháng 8 năm 2012 ông Philipp Rösler đã cùng với nữ thủ tướng Angela Merkel đến thăm Trung Quốc và đứng ngang hàng cũng như ngồi họp chung với chủ tịch cộng sản Tàu Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Trước khi khởi hành cuộc thăm viếng Việt Nam Phó thủ tướng Philipp Rösler cho báo chí biết: "Đức là quê hương của tôi, nhưng tôi đã được sinh ra tại Việt Nam. Vì vậy, điều này dĩ nhiên không phải là cuộc hành trình hằng ngày." Nghĩ đến thận phận mồ côi của mình ông nói tiếp: "Vừa lúc này tôi nghĩ đến số phận của những đứa trẻ mồ côi và nạn nhân chiến tranh, điều này làm tôi bồi hồi". 

Theo sự tò mò của giới truyền thông nói về Khánh Hưng thuộc tỉnh Sóc Trăng, nơi đứa trẻ sơ sinh Rösler (cho đến 9 tháng tuổi) sống trong viện mồ côi của các nữ tu công giáo vào năm 1973 thì ông Rösler cho biết chuyến đi này không mang mục đích cá nhân và Sóc Trăng không phải là một trong những điểm dừng chân trên hành trình của ông, mặc dù tòa đại sứ VN tại Berlin đã muốn tổ chức cho ông Rösler cuộc viếng thăm đặc biệt tại Sóc Trăng. "Tôi đến Việt Nam là Bộ trưởng Bộ kinh tế Đức và như một luật sư cho nền kinh tế Đức, để hỗ trợ công việc kinh doanh của chúng tôi (chính quyền Đức) và không sử dụng cho việc nghiên cứu tiểu sử của mình", ông Rösler trả lời. Tuy nhiên chuyến đi có một chút "bồi hồi", nhưng "Đức là nhà của tôi, Việt Nam chỉ là một phần nhỏ trong câu chuyện cuộc đời của tôi". Vẫn có vài trách cứ về cách nhìn nhận cội nguồn của ông Rösler, mới đây ông cho biết: "Nếu một người được nhận nuôi mới 9 tháng tuổi, thì người đó chẳng có những kỷ niệm nào về nơi chôn nhau cắt rốn cả". 

Nhìn theo quan điểm thông thường của Việt Nam dành cho những người đỗ đạt là quan trạng về làng, hoặc vinh quy bái tổ thì nhìn theo lịch trình làm việc của Phó thủ tướng Philipp Rösler còn long trọng hơn thế nữa. Đến nay chưa từng có một người con dân Việt Nam đại diện cho một quốc gia tân tiến khác đến thương thảo với cấp chính quyền cao nhất của Việt Nam: gặp thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cùng với các đại diện cao cấp khác của Chính phủ Việt Nam.

Đây là một cuộc gặp gỡ đối tác về kinh tế cấp cao giữa hai quốc gia Đức - Việt Nam. Dẫn đầu phái đoàn Đức do Phó thủ tướng Philipp Rösler và được tháp tùng bởi một số Dân Biểu quốc hội Liên Bang Đức, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao, bà Cornelia Pieper và nhiều tập đoàn mũi nhọn hàng đầu nổi tiếng của Đức như Siemens, Mercedes, Audi, BMW, Deutsche Bank, Metro Cash & Carry, Deutsche Telekom…

Phái đoàn Đức sẽ tham dự Diễn đàn đối thoại Việt Nam - Đức, được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 18/9.

Sau đó phái đoàn tham dự Diễn đàn Kinh tế Đức - Việt, dự lễ khai trương Trường phổ thông giao lưu Đức - Việt và Trung tâm Công nghệ Đức - Việt tại Sài Gòn vào ngày 19/9.

Theo báo giới Việt Nam cho biết về kim ngạch hai chiều giữa hai quốc gia trong năm 2011 đã lên đến gần 5,6 tỷ USD, tăng 33 % so với năm 2010. Về đầu tư, tính đến nay, Đức có 185 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký đạt trên 900 triệu USD.

Hai quốc gia trong cuộc gặp gỡ này sẽ thúc đẩy các dự án ưu tiên gồm có xây dựng tuyến tầu điện ngầm số 2 Sài Gòn, trường Đại Học Việt - Đức, Ngôi nhà của Đức tại Sài Gòn. 

Ngoài ra Việt nam đã vinh danh Phó thủ tướng Philipp Rösler với việc trao bằng Tiến sĩ Danh dự tại trường Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội) vào ngày 17/9. Nơi đây ông Rösler đã gặp gỡ đại diện 200 sinh viên và thuyết trình về chủ đề "Cơ hội của nền kinh tế thị trường xã hội".

Kinh tế phải đi đôi với "tự do dân chủ"

Một điều thú vị - dưới bức tượng bán thân tô vàng của Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo cộng sản VN được đặt tại sân khấu của Đại học Kinh tế quốc dân, thì tại đó một nhà chính trị Đức gốc Việt Nam lại thuyết giảng bằng tiếng Đức cho sinh viên và ban giáo sư về sự ổn định tiền tệ, sở hữu tư nhân và tuân thủ hợp đồng. Còn hơn thế nữa ông Rösler nói một câu ngắn gọn "Không có sự tự do mà bị chia cắt ra", một lời mạnh mẽ, tuy nhiên làm cho các lãnh đạo đảng viên hiện diện tối mặt tối mày, nhưng các sinh viên hiện diện vỗ tay và câu nói đó làm họ hài lòng, giới báo Đức ghi nhận như thế.

Tại trường Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội), Phó thủ tướng Philipp Rösler đã đưa chủ thuyết của đảng FDP do ông lãnh đạo tại Đức: có tự do mới phát triển kinh tế tốt đẹp. Điều này ông Rösler đã nói đến 7 nguyên tắc cơ bản của nhà tư tưởng Ludwig Erhard thuộc đảng FDP đã cải cách mạnh mẽ nền kinh tế Đức lên hàng cường quốc sau thời hậu chiến 1945, một trong những nguyên tắc đó là quyền Sở Hữu Tư Nhân, để nhấn mạnh "Nhà nước không phải là các nhà doanh nghiệp tốt nhất".

Ông Rösler khôn khéo gieo vào lòng sinh viên lẫn ban giáo sư một tư tưởng thực tiễn: "Tự do, đó không phải là điều nguy hiểm, nhưng nền tảng cho sự thịnh vượng mà các bạn đang nhìn thấy tại quê hương Đức của tôi."

Qua đó ông yêu cầu nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VN không chỉ nhằm vào việc tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước và mở cửa thị trường, mà còn để cho người dân có tự do hơn. "Làm thế nào để cho người dân suy nghĩ, hành động và quyết định chịu trách nhiệm cho chính mình, mà họ chẳng có sự tự do", ông Rösler nói tiếp. Dưới mắt nhìn của bộ trưởng kinh tế Philipp Rösler soi vào nền kinh tế Việt Nam thì chỉ có một cách duy nhất để có thể mau chóng phát triển: "Không có việc kinh doanh, nền kinh tế tự do mà không có tự do xã hội. Cả hai đều liên quan chặt chẽ với nhau." 

Cho sự nghiệp thành công riêng của mình ở Đức, ông Rösler đánh giá đó là bằng chứng mà sự tự do đã mang lại các cơ hội tốt đẹp cho ông. "Việc đó như một nền kinh tế quốc dân lớn mạnh đã cho một người đã được sinh ra tại Việt Nam và được nuôi dưỡng trong viện mồ côi thời chiến tranh có một cơ hội để thăng tiến trong một hệ thống dân chủ, tự nhận trách nhiệm, để có thể trở thành sức mạnh phát triển một nền dân chủ". Ông Rösler cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của kinh tế tư nhân và sở hữu tư nhân: "Đó không phải là vai trò của chính sách, nó không phải là nhiệm vụ của nhà nước để chỉ đạo cuộc sống kinh tế" của người dân.

Kinh tế phải đi đôi với "chữ tín"

Chính quyền Đức nhìn Việt Nam là một thị trường xuất khẩu cho tương lai, vì thế mục đích của chuyến đi này nhằm cải thiện sự hợp tác, kinh tế, chính trị và xã hội. "Tất cả các lý do trên chúng tôi muốn gửi một tín hiệu rõ ràng rằng nước Đức có một sự quan tâm mạnh mẽ và mở rộng hơn nữa về hợp tác kinh tế", ông Roesler.

Một người gốc Việt Nam đã nhắc nhở nhẹ nhàng cho nhà nước Việt Nam nguyên tắc sống còn trên thị trường thế giới: Điều kiện tiên quyết cần thiết cho việc đầu tư nước ngoài là "chữ tín" của hợp đồng và tự do hợp đồng. Các nhà đầu tư nước ngoài phải được xác tín rằng họ có thể dựa vào lời hứa và thỏa thuận đã được ký kết. Các công ty Đức luôn luôn phàn nàn rằng các hợp đồng ở Việt Nam không được đáp ứng và các hóa đơn không được thanh toán.

Trong túi áo mang theo danh sách 5 người tù nhân chính trị

Bộ Ngoại giao Đức đã gửi theo thông điệp cho Phó thủ tướng Philipp Rösler mang đến Việt Nam và ngày 18/9 sẽ trao trực tiếp đến thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng danh sách 5 người tù nhân chính trị đang mắc phải bệnh tật trong tù.

Ở Việt Nam, các nhà bất đồng chính kiến đang bị bức hại và theo dõi, tự do báo chí không tồn tại. Những cuộc bắt bớ này làm cho giới ngoại giao phải lên tiếng. Ông Rösler biểu lộ rõ ràng tại Đại học Kinh tế quốc dân: "Tự do là không nguy hiểm, nhưng là nền tảng của sự thịnh vượng", điều đó "các Bạn có thể thấy trên đất nước của tôi (nước Đức)".

Người Công Giáo Việt Nam luôn gặp khó khăn tại Việt Nam

Trước ngày lên đường viếng thăm Việt Nam, Phó thủ tướng Philipp Rösler đã trả lời phỏng vấn của tuần báo Spiegel, trong đó ông có nhắc đến người Công Gáo Việt Nam.

Spiegel Online: Tại Việt Nam, cộng sản vẫn còn cai trị với một hệ thống độc đảng. Trong chuyến đi này ông có để ý đến việc tôn trọng về nhân quyền?

Philipp Rösler: Tôi đang dấn thân trong Ủy ban Trung ương của người Công giáo Đức, do đó điều này cũng quan trọng đối với tôi để mời đại diện của Giáo hội Công giáo (VN) tham dự một buổi tiếp tân tại Đại sứ quán Đức ở Hà Nội. Người Công giáo tiếp tục gặp khó khăn tại Việt Nam. Lời mời trên như thế là một xác nhận rõ ràng từ phía của tôi.

Spiegel Online: Ông đã được rửa tội vào năm 2000. Có phải quyết định này liên quan cùng với thực tế rằng các nữ tu Công Giáo đã cứu sống ông?

Philipp Rösler: Đó không phải là yếu tố quyết định. Nhưng ai đã cảm nghiệm được sự nguy hiểm và nghèo túng trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà các Nữ Tu đã dấn thân cưu mang các trẻ em mồ côi, thì người đó sẽ gìn giữ nó mãi trong tâm trí của mình.

Phó thủ tướng Philipp Rösler sẽ kết thúc cuộc viếng thăm Việt Nam vào ngày 19/9 và sau đó ông sẽ lên đường đi thủ đô Bangkok để gặp Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra và Phó Thủ tướng Kittirat Na-Ranong. Tại đây ông Philipp Rösler sẽ khai mạc cuộc họp Ủy ban Kinh tế với doanh nghiệp Đức và Thái Lan. 

Hà Long

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

Người cầu nguyện cho phụ nữ hiếm muộn mang bầu qua đời

Cha Toma Thiện, người cầu nguyện cho phụ nữ hiếm muộn mang bầu, đã qua đời hồi 19 giờ ngày 9 tháng 9 vừa qua tại đan viện Thiên Phước, Sài Gòn, hưởng thọ 79 tuổi.

Thánh lễ an táng đã được cử hành ngày 12/9/2012 tại đan viện Thiên Phước do ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm chủ sự. Cùng đồng tế với ngài có khoảng 50 linh mục triều và dòng.

Số người tham dự thánh lễ khá đông, ngồi kín cả sân nhà thờ và tràn ra đến ngoài cổng. Họ là những người đến từ khắp mọi miền đất nước, trong đó có rất nhiều anh chị em lương dân, những người tự nhận cha Toma Thiện là ân nhân của mình, vì  họ tin rằng nhờ lời cầu nguyện của ngài mà được chữa lành bệnh tật hay được có con. Nhiều bà mẹ còn đem theo cả đứa con, là hoa trái của lời cầu nguyện, để tiễn biệt vị đại ân nhân của mình lần cuối.


Sự kiện cha Toma Thiện, đan sĩ Biển Đức thuộc đan viện Thiên Phước, Tam Bình, Thủ Đức, cầu nguyện cho người hiếm muộn có con đã trở nên một hiện tượng cách đây 5 năm về trước. Đó là vào năm 2007, một số chị em được cho là đã mang thai nhờ lời cầu nguyện của ngài. 


Tin tức này mau chóng được loan đi, và dòng người tuôn đến đan viện xin cầu nguyện càng ngày càng đông. Nhiều người đã đạt được ước nguyện là có những đứa con như ý, nhưng cũng có nhiều người khác thất vọng vì phải mang bầu nhiều hơn thời gian bình thường, từ 12 đến 20 tháng, mà không có con.

Ngoài việc cầu nguyện cho người vô sinh mang thai, nhiều người khác với đủ thứ bệnh tật cũng được coi là đã được chữa khỏi nhờ lời cầu nguyện của vị đan sĩ tốt lành này.

Hiện tượng này đã gây ra những phản ứng trái chiều trong Giáo hội và xã hội vào thời điểm đó. Trong đạo cũng như ngoài đời, có nhiều người tỏ thái độ hồ nghi, còn những người khác thì khâm phục về những sự kiện bất thường, không thể giải thích được theo quan điểm của y khoa hay thần học.


Hiện tượng này đã gây ra những phản ứng trái chiều trong Giáo hội và xã hội vào thời điểm đó. Trong đạo cũng như ngoài đời, có nhiều người tỏ thái độ hồ nghi, còn những người khác thì khâm phục về những sự kiện bất thường, không thể giải thích được theo quan điểm của y khoa hay thần học.


Cha Toma Thiện, tên rửa tội là GB Lê Thanh Các, sinh năm 1933 tại giáo xứ Hướng Phương, Quảng Bình. Năm 20 tuổi, người thanh niên quê bọ này gia nhập đan viện Thiên An, Huế, và mang tên Toma Thiện từ ngày khấn dòng tại đây.

Dòng Biển Đức có truyền thống coi ngày khấn dòng như là ngày rửa tội thứ hai. Ngày đó, người ta chọn cho mình một vị thánh bảo trợ, tên thánh này là tên gọi trong dòng, và trở nên thông dụng đến mức người ngoài dường như không còn nhớ đến tên thật của đan sĩ đó.

Đan sĩ là người Kitô hữu hiến dâng cả cuộc đời mình để tìm kiếm và gặp gỡ Thiên ChúaĐời sống đan tu được thực hiện trong môi trường thinh lặng và cô tịch; cùng với một số phương tiện đặc thù: im lặng và cầu nguyện liên lỉ, các giờ kinh phụng vụ, đọc sách thiêng liêng và nhiều phương thức bỏ mình khác, dọn đường cho việc hoán cải và thanh luyệt con tim.

Bởi việc tìm kiếm Thiên Chúa là lẽ sống, là mục tiêu cứu cánh của hiện hữu, nên cuộc đời đan sĩ thực là tinh giản. Tinh giản có nghĩa là chỉ có một mối bận tâm và một mục tiêu, đó là nghĩa đầu tiên và thâm thúy nhất của từ đan sĩ.

Say mê với lý tưởng đó, thầy Toma Thiện hài lòng với ơn gọi của mình trong tư cách là một trợ sĩ dòng Biển Đức, với phương châm sống "Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng" (Lc 17,10).

Nhưng vì cộng đoàn thiếu nhân sự, bề trên gọi ngài đi học đại chủng viện. Vốn sẵn có tư chất thông minh, nên ngài sớm hoàn thành chương trình triết học và thần học. Rồi ngài được phong chức linh mục ngoài sự mong đợi của bản thân ở tuổi 42. 

Trong gần 60 năm sống đời đan tu, ngài đã ở các đan viện Thiên An (Huế), Thiên Hòa (Buôn Ma Thuột) và Thiên Phước (Sài Gòn). Ngài cũng đã nắm giữ nhiều chức vụ, trong đó có nhiều năm làm bề trên cộng đoàn Thiên Hòa và sau đó là phó bề trên cộng đoàn Thiên Phước.

Dù ở cương vị nào thì ngài vẫn tỏ ra là một người đơn giản, vui tươi, lạc quan, hài hước và hay giúp đỡ người khác. Người viết bài này được gặp ngài nhiều lần cũng như có thời gian ở với ngài, và nhận thấy rằng đây là mẫu người mà nhiều người thích sống với.

Năm 2008, ngài bị tai nạn giao thông rất nặng. Kể từ đó, ngài nằm liệt giường cho đến khi qua đời. 
Vị đan sĩ tốt bụng này đã cầu nguyện chữa lành cho nhiều người, mà không tự chữa được cho mình. Cuộc đời và sự ra đi của cha Toma Thiện thật đơn giản và nhẹ nhàng như câu châm ngôn sống của ngài "Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng".



Tại nhà hỏa táng Bình Dương
Lm Gioan Phạm Quang Long

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Perspectives on Vietnamese Current Situation


clip_image001
In recent decades, the implementation of ‘Doi Moi’ (renovation) policy has helped Vietnam to intergrate into the unique mainstream of the modern world and turn its stagnant economy into one of the most rapid growths in Asia. As an official member of ASEAN, APEC, and WTO and with its integral achievements that have been well actualized, Vietnam has come to establish its diplomatic relations with many countries, join international organizations and attract a wide range of foreign investments. This results in the fact that Vietnam is becoming more active and creative than ever before, and seems to be wealthier in general. However, recent social situations have shown that the country’s economy is losing its orientation and in lack of sustainable development and human values; simply because its economic reform does not keep abreast of its political reform; and its economic growth has loose links with its social and well-rounded human development.
               
                                To see >>Vietnamese version

The letter from the Conference of God’s People being organized by Vietnam’s Catholic Church in 2010 called on all the Catholics to try to identify and discern “ Vietnam’s social situation in the light of Catholic Faith”. In this point of view, on behalf of the Vietnamese - citizens and catholic, the Episcopal Commission for Justice and Peace of Vietnam’s Bishop Conference would like to express its appraisal, thought and concern about Vietnam’s current situation.

Economy

Although Vietnam is said to have gained its remarkably economic growth in the last two decades, getting out of low-income countries, the economy of this country in recent years has showed some precarious drawbacks impinging on people’s life and the country’s future. These are some undeniable proofs illustrated by its bad economic management, state-run economic groups making heavy loss, numerous enterprises going out of business while banks earning large profits, high inflation, wide gap between the rich and the poor, people’s quality of life reducing, many people caught in poverty traps, etc. Is such an economic model enriching privileged groups rather the grass roots?

Economy mainly based on state-run groups is the root of exclusivity and abuse of power, and deforms operations of the market-led economy. State-owned enterprises make a minor contribution to the country’s economic growth but are given numerous privileges and prerogatives that are unfair to private enterprises and restrain their own development. The country’s increasing foreign debt and trade deficit weaken the economy and put it under an unsteady place. Rising inflation is also the root of poverty and causes problems to people and enterprises. Massive waves of strikes show that workers’ interests are not respected. Some controversial projects - bauxite exploitation in the Central Highlands and nuclear power plants in the central province of Ninh Thuan - are still carried out by the government despite the people’s disapproval.

Law on land ownership

The current law on land in Vietnam, which is against nature and shows disrespect for the Universal Declaration of Human Rights, is the root of 80 percent of the land-related complaints, ranking from individuals to communities, from written documents to gatherings and violent actions.

The law ruling that land belongs to the people and is managed by the State, offers millions of people a sense of loss and no rights to work on their own land used by their generations. In reality, collective ownership is not the best way to manage land, and state ownership gives special privileges to levels of government authorities in making plans and withdrawing land from people, which takes basic rights away from people.

Inadequate compensation in land disputes also upsets people. To solve disputes about compensation between land evictees and the government, investors have to be awarded compensation equivalent to their loss, and their life should be better or as good as it is. As land price increases enormously after projects run, land evictees should be offered profits by various ways. It is important that the land law be amended immediately so that people enjoy their ownership and land withdrawal of government authorities is limited.

Social Environment

There are matters of concern to the society in Vietnam. Deceptiveness and violence, which Vietnam bishops highlighted in 2008, feature among them. They spread not only in streets, business affairs and state-run media but at schools and government organization.

In addition to social evils, there are consumerism, selfish behavior, respect for fame and fortune, emotionlessness to people’s pain, etc. They show a sharp decline in moral values which used to maintain a high standard in society.

Government corruption is widespread, legendary and serious but so far no particular cases have gone to trial as a word of warning. As a result, people are losing their trust in the government.

Complaints, mainly related to land disputes including religious properties, take place in complicated and serious ways, and cause tense and insecurities to people. Recent land disputes in Tien Lang district in Hai Phong city and Van Giang district in Hung Yen province have concerned all people of goodwill. Those cases also force the government to look back on its solution to land disputes and to amend land laws in terms of land area limit, duration of land use and compensation, if the government has yet to decide to respect private ownership.

Another urgent concern is government officials’ way of working in an authoritarian, dubious and unprofessional way. The visible manifestation of imposing state views and lifestyles on society is that public policies discriminate individuals working for the State against business people and casual workers, between urban residents against migrant workers.

The Law

The constitution and law in each country reflect its cultural and traditional characteristics and particularities, but have to obey international legal principles. Vietnam’s legal system is large but works inefficiently from legislation to the executive since it lacks publicity, transparency and especial judicial independence.

Law enforcement, arbitrary and not strict in localities make many people become victims of injustice or place them in a state of deadlock. In some cases, several arrests break the Vietnamese Criminal Procedure Code and international declaration and convention Vietnam adopts.

Detaining people but not bringing them to trial is disguised as “sending to education camps” within a certain time limit and this punishment imposed on dissidents is in violation of human rights. The “education” punishment used to be used by French colonists in Vietnam, later reiterated in Resolution 49/NQ-TVQH on June 20, 1961 and imposed on former South Vietnam officials and soldiers. It was declared invalid in 1989 by Ordinance on handling of administrative violations, but has taken effect again from 1995. It is hoped that this kind of punishment will be abrogated in the future.

Poor management and governance by levels of government authorities are only resolved when the country builds a real state of law and establish an active civil society. This growing political trend could not be reversed despite present challenges.

National Boundaries, Islands and Sovereignty

There were military conflicts on East Sea in the last decades of the previous century. In recent years, marine disputes between Vietnam and China have been steadily escalating.

China uses both honeyed words and strong actions to claim its sovereignty over the East Sea.

At the same time, Vietnam seems to produce nervous reaction to its neighboring state. That creates opportunities for enemy forces to criticize its policy. It is surprising that the government has been cracking down on patriotic organizations and individuals who have protested against China’s clear invasion. People are dissatisfied with government leaders’ ambiguity and inconsistency in marking the national boundaries and defending its sovereignty over East Sea. Patriots and Intellectuals warn the government of risks of national security posed by major projects allowing foreigners to mine for Bauxite or rent forests and land. Moreover, information on this matter is not provided properly and publicly. As a result, unskilled workers from foreign countries rush to work on those sites, which arouses a feeling insecurity in society at the moment and in the future.

Environment

Experts forecast that Vietnam will be one of the world four countries who will severely suffer climate change. That is due to the impact of global climate change and especially Vietnam paying little attention to protection of the environment and sustainability of development.

It is worried that we make awkward and hasty decision on commercial exploitation of the mineral resources. In recent years, the State allows foreigners to invest in numerous projects that pose real risk to damage to the environment, and ecological and climate change: commercial exploitation of bauxite in the Central Highlands, and upstream forests in 18 provinces rented by foreigners. Foreign protection of the environment.

Intellectuals’ Roles

1,000 years ago, our ancestors founded Quoc Tu Giam and were aware that talented and moral people are the nation’s life-sustaining sources. If the nation has such numerous sources; it will be powerful and affluent. Without such sources, conversely, it will be poor and have no power. This saying is still relevant in the era of grey matter, the age of knowledge economy.

Regardless of countless doctors who are suspected to have poor quality, Vietnam has a lot of real intellectuals of good will. It is regretted that their roles are not fully appreciated and even are marginalized or ignored. In some cases, the reason is they have different views on social realities or the nation’s future vision. Is the state mechanism inadequate and not open enough to attract intellectuals? Has it yet reformed radically by the modern society’s needs? When is the civil society’s role recognized and given welcome opportunities to build the country?

Education and Health Care

The nation’s future largely depends on education. It is an undeniable fact that the nation’s education has produced several talented people and made great contribution to the country’s development. During the past decades, however, our education faces numerous problems of its contents and teaching and learning methods. The country has made efforts to reform the education system but has not achieved major breakthroughs. Why? We painfully admit that we lack fundamental philosophy of education and long-term educational strategy.

We face growing evil deeds in education, school-age children crimes, and qualifications trade as a serious consequence of the above situation. Now the country runs the risk of trailing in many fields.

Thanks to applying new technologies for years, Vietnam’s health care has gained great achievements in medical treatment in overcrowded hospitals and hospitals fee increase that burden poor patients, people also complain about health care givers’ attitude towards patients such as insensitivity, irresponsibility, harassment and immorality.

The state has called for privatization of education and healthcare, it should create conditions for local religions to directly participate in the two sectors.

Religion

In the past time, the government gave favorable opportunities to religious activities. Religious facilities that were destroyed in wars were repaired or rebuilt, and new facilities have also been built. However, regulations on religions remain unhelpful and have yet to meet religious people’s expectation, especially religious organizations’ legal entity. The crucial problem is that religious are recognized but not given legal entity. So they are unable to carry out and safeguard their constitutional rights like other organizations.

The government plans to issue a decree “detailed regulations and measures implementation of some clauses of the Beliefs and Religious Ordinance”, replacing the Decree 22/2005/ND-CP issued March 1, 2005. It is appreciated if the new decree is drafted in the light of renovation and goodwill; it will create conditions for followers of religions to enjoy freedom and serve their compatriots and defend the Fatherland. However, some people fear that the new decree may restrict religious activities more than the present decree. The serious question remains that when do religious citizens get as fair treatment as others by the constitution and civil laws, not a religious ordinance?

The above perspectives are from our Christian faith and civic responsibilities, wishing to make a contribution to the country’s sustainable development, democracy and humanity. In this case, Pope Benedict XVI’s speech to Vietnam’s bishops on June 27, 2009 is still relevant to the Episcopal Commission for Justice and Peace: “the Church never wants to replace the government, but wish that in a spirit of dialogue and cooperation, the Church can make its contribution to the nation’s life and serve all people.”

May 12, 2012, on the 121th anniversary of the encyclical Rerum Novarum
Episcopal Commission For Justice and Peace of the Vietnam Bishops’ Conference

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay

clip_image001Chủ trương đổi mới đã giúp Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy chung của nhân loại và đưa đất nước từ một nền kinh tế nghèo nàn đến một trong những nước có tăng trưởng kinh tế cao nhất châu Á. Tiến trình hội nhập được cụ thể hóa qua việc Việt Nam trở nên thành viên của khối ASEAN, tham gia APEC, gia nhập WTO. Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia, tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế và thu hút đầu tư của nhiều tập đoàn nước ngoài. Xã hội ngày càng trở nên năng động, sáng tạo và nhìn chung có vẻ giàu có hơn. Nhưng tình hình gần đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang mất định hướng, thiếu tính bền vững và nhân bản, vì đổi mới kinh tế không song hành đổi mới chính trị, cũng như tăng trưởng kinh tế không nối kết với phát triển xã hội và phát triển con người toàn diện.


Thư chung hậu Đại hội Dân Chúa năm 2010 mời gọi tất cả các thành viên của Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam cố gắng nhận diện và phân định “hiện trạng xã hội Việt Nam dưới ánh sáng đức tin”. Chính trong viễn tượng đó, Ủy ban Công lý và Hòa bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam muốn bày tỏ một vài thao thức, suy nghĩ và nhận định về tình hình Đất nước, vừa với tư cách công dân, vừa với tư cách Kitô hữu.


Nền kinh tế Việt Nam

Sau gần hai thập niên đạt tăng trưởng kinh tế cao, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp nhất, nhưng tình trạng mấy năm gần đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang bộc lộ những nguy cơ nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân và tương lai của đất nước. Biểu hiện rõ nhất là quản lý kinh tế yếu kém, các tập đoàn Nhà nước thua lỗ nặng, doanh nghiệp phá sản càng nhiều ngân hàng lãi càng lớn, lạm phát tăng cao, chênh lệch giàu nghèo nới rộng, chất lượng cuộc sống của đại đa số dân chúng giảm sút, nhiều người rơi trở lại tình trạng nghèo trước đây… Phải chăng mô hình kinh tế hiện tại đang làm giàu cho nhóm đặc lợi hơn là cho toàn dân?

Định hướng kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo đã tạo ra độc quyền và lạm quyền, làm méo mó sự vận hành cần có của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước đóng góp ít vào tăng trưởng kinh tế nhưng lại nhận nhiều đặc quyền đặc lợi, gây bất công và kìm hãm sự phát triển của khối tư nhân. Nợ nước ngoài và thâm thủng mậu dịch đã và đang gia tăng khiến nền kinh tế bị suy yếu và lệ thuộc. Lạm phát gia tăng cũng làm tăng đói nghèo, gây khó khăn hơn cho cuộc sống của người dân và cả các doanh nghiệp. Đình công tiếp tục tăng cao chứng tỏ quyền lợi của công nhân chưa được bảo vệ thỏa đáng. Một số chủ trương không hợp lòng dân mà vẫn được Nhà nước tiến hành như vụ khai thác bô-xit Tây Nguyên hoặc dự án xây nhà máy điện hạt nhân ở tỉnh Ninh Thuận.

Luật đất đai

Luật đất đai hiện hành, vừa đi ngược tự nhiên, vừa không tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Đó là nguyên nhân của khoảng 80% các khiếu kiện trong nước. Các vụ khiếu kiện này đã đi từ khiếu nại cá nhân đến khiếu kiện tập thể; từ khiếu kiện bằng đơn từ đến tập họp phản đối và nay là dùng vũ khí chống lại việc thu hồi đất.

Luật đất đai qui định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng do Nhà nước quản lý đã làm cho hàng triệu người cảm thấy mất đất và chẳng có quyền tự do hành xử trên “mảnh đất ông bà tổ tiên”. Trên  thực tế, sở hữu toàn dân không phải là phương thức quản lý đất đai tốt nhất, còn việc Nhà nước làm chủ sở hữu đã phát sinh đặc quyền, đặc lợi của chính quyền các cấp trong việc quy hoạch và thu hồi đất cho các dự án, tước mất quyền căn bản của người dân.

Vấn đề gây bức xúc nhiều nhất trong việc thu hồi đất là giá đền bù. Muốn giải quyết tranh chấp về giá đền bù giữa người bị thu hồi đất và cơ quan chức năng hoặc các nhà đầu tư, thì phải làm sao để người bị thu hồi đất được đền bù ngang giá với tài sản của họ bị trưng dụng và cuộc sống của họ phải tốt đẹp ngang hay hơn trước khi bị trưng dụng. Vì giá đất tăng gấp bội sau khi quy hoạch, nên người bị thu hồi đất cần được chia phần sự chênh lệch giá cả này bằng nhiều cách khác nhau. Điều cần thiết là nên cấp tốc sửa đổi Luật đất đai để người dân được quyền sở hữu đất và hạn chế tối đa quyền thu hồi đất của các cấp chính quyền.

Môi trường xã hội

Xã hội Việt Nam đang bộc lộ nhiều hiện tượng rất đáng quan ngại. Nổi bật nhất vẫn là hai tật xấu đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam cảnh báo từ năm 2008, đó là gian dối và bạo lực. Chúng không những phô bày nơi đường phố, trên thương trường và các phương tiện thông tin đại chúng, mà còn xâm nhập vào công sở và học đường. Dư luận đang bức xúc vì hiện tượng lạ lùng là tại một số nơi, cơ quan công quyền lại sử dụng bạo lực phi pháp để giải quyết các khiếu kiện dân sự.

Bên cạnh những tệ nạn đang tác hại xã hội Việt Nam hôm nay, nhiều người âu lo vì khuynh hướng sống hưởng thụ, chụp giựt, coi trọng đồng tiền, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại… Hiện tượng này chứng tỏ tình trạng thiếu vắng các giá trị đạo đức nền tảng làm chuẩn mực cho đời sống xã hội, vì vậy một số người đã cảnh báo về một xã hội lệch chuẩn hay phi chuẩn.

Tham nhũng đã được coi là đại họa của quốc gia, ngày càng tinh vi và nghiêm trọng hơn, nhưng cho đến nay chưa một vụ án nào xứng tầm được đưa ra xét xử để răn đe, làm giảm sút niềm tin của người dân nơi công quyền.

Các vụ khiếu kiện, chủ yếu liên quan đến đất đai, trong đó có đất tôn giáo, vẫn tiếp diễn phức tạp và ngày càng trầm trọng, gây bất an và căng thẳng xã hội. Vụ việc ở Tiên Lãng, Hải Phòng, và Văn Giang, Hưng Yên, gây xúc động mạnh mẽ trên tất cả những người Việt Nam có tâm huyết, buộc Nhà nước phải nhìn lại cách giải quyết vấn đề, mà cốt yếu là sửa đổi Luật đất đai về mặt hạn điền, thời hạn sử dụng đất và giá đền bù…, nếu chưa đi đến chỗ nhìn nhận quyền tư hữu chính đáng của công dân.

Một yêu cầu cấp bách khác là cần thay đổi lề lối làm việc cửa quyền, không minh bạch và thiếu chuyên môn của cán bộ. Biểu hiện rõ rệt nhất ở sự áp đặt của Nhà nước về quan điểm và cách sống trong xã hội, đó là sự phân biệt đối xử trong chính sách công giữa các cá nhân làm việc cho Nhà nước với các doanh nhân và người lao động tự do, giữa người dân thành thị và người nhập cư ngoại tỉnh.

Lĩnh vực pháp luật

Hiến pháp và pháp luật của mỗi quốc gia phản ánh tính đặc thù và cá biệt theo truyền thống văn hóa dân tộc mình, nhưng cũng không vì thế mà bất chấp những chuẩn mực pháp lý quốc tế. Việt Nam có một hệ thống pháp luật đồ sộ, nhưng không hiệu quả từ lập pháp đến hành pháp, vì thiếu sự công khai, minh bạch, và nhất là thiếu sự độc lập về tư pháp.

Việc áp dụng luật pháp chưa nghiêm minh và tùy tiện, nhất là ở cấp địa phương, đã dẫn đến những oan sai và đôi khi đẩy người dân đến bước đường cùng. Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định các thủ tục bắt người; vậy mà trong một số trường hợp, vẫn có các công dân bị bắt sai trái với các quy định của bộ luật ấy, cũng như với các tuyên ngôn và công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Việc giam giữ người không qua xét xử được che đậy dưới từ ngữ “đưa vào cơ sở giáo dục” có thời hạn và áp dụng cho những người bày tỏ sự bất đồng chính kiến là một hình thức vi phạm quyền cơ bản của con người. Hình thức “giáo dục” này thực ra là một biện pháp mà thực dân Pháp sử dụng ở nước ta, sau đó được lập lại bằng Nghị quyết 49/NQ-TVQH ngày 20/6/1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đã là cơ sở pháp lý cho việc tập trung cải tạo các công chức và quân nhân chính quyền Miền Nam cũ. Sau này có một chuyển biến tốt đẹp về biện pháp này khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban hành năm 1989 không sử dụng nó nữa. Nhưng với Pháp lệnh năm 1995, nó lại được tái lập dưới cái tên hiện nay và được Pháp lệnh năm 2002 nối tiếp. Hy vọng trong lần ban hành tới về xử lý vi phạm hành chính, kiểu “giáo dục” ấy sẽ được bãi bỏ.

Căn bệnh trầm kha trong quản lý và điều hành của các cấp chính quyền chỉ được giải quyết khi Việt Nam xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực sự và hình thành một xã hội công dân năng động. Bất chấp những khó khăn hiện tại, đây là một xu thế không thể đảo ngược.

Biên cương, hải đảo và chủ quyền quốc gia

Vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, Biển Đông đã một vài lần nổi sóng. Nhưng trong những năm gần đây, sự căng thẳng đã lên đến mức độ nguy hiểm. Nhà cầm quyền Trung Quốc một mặt dùng lời lẽ hoa mỹ, với thông điệp rất êm tai, nhưng mặt khác, các hành động của họ về chủ quyền trên Biển Đông ngày càng phản ánh rõ rệt chủ trương Đại Hán.

Trong khi đó, bên Việt Nam, phản ứng của Nhà nước xem ra quá yếu ớt, tạo cớ cho các lực lượng thù nghịch lấn tới. Khó hiểu hơn nữa là việc chính quyền đã mạnh tay đàn áp các tổ chức và các cá nhân yêu nước phản đối hành động xâm lược trắng trợn. Thái độ lập lờ, thiếu nhất quán của các nhà lãnh đạo trong vấn đề phân định lãnh thổ vùng biên giới và bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông đang gây bất bình trong dư luận. Nhiều nhân sĩ và các nhà trí thức tâm huyết đã lên tiếng cảnh báo những nguy cơ về an ninh quốc gia do một số dự án cho nước ngoài khai thác bô-xít và thuê đất, thuê rừng. Mặt khác, các thông tin về lĩnh vực này không đầy đủ, chậm chạp và thiếu công khai. Điều trước mắt đã xảy ra là “lao động phổ thông” nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam để thực hiện các dự án trên đang gây bất ổn cho xã hội hiện tại và về lâu dài.

Môi trường sinh thái

Theo dự báo của các cơ quan chuyên môn, Việt Nam sẽ là một trong bốn nước phải gánh chịu hậu quả nghiệt ngã nhất của biến đổi khí hậu. Nguyên nhân một phần do tác động của biến đối khí hậu toàn cầu, nhưng một phần khác do chúng ta thiếu quan tâm đến môi trường sinh thái và tính bền vững trong phát triển.
Điều đáng quan ngại nhất là chúng ta vụng về và vội vàng trong khai thác tài nguyên. Những năm gần đây Nhà nước đã cho nước ngoài đầu tư nhiều dự án có nguy cơ hủy hoại môi trường, thay đổi hệ sinh thái và làm biến đổi khí hậu: khai thác bô-xit tại Tây nguyên, cho thuê rất nhiều khu rừng đầu nguồn thuộc 18 tỉnh từ Bắc chí Nam, rất nhiều tỉnh đã khoanh biển và bờ biển cho các công ty ngoại quốc thuê để xây khách sạn, lập bãi tắm hoặc các dự án khác, mà không quan tâm đến môi trường sinh thái.

Vai trò của Trí thức

Gần 1000 năm trước, cùng với việc thành lập Quốc Tử Giám, tổ tiên chúng ta đã nhận thức sâu sắc rằng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì nước yếu mà thấp hèn” (Bia Văn Miếu). Điều này vẫn luôn đúng và càng đúng hơn cho kỷ nguyên chất xám, thời đại của nền kinh tế tri thức hôm nay.

Bỏ ra ngoài hiện tượng gia tăng đột biến số lượng các tiến sĩ mà chất lượng còn đáng nghi ngại, Việt Nam còn khá nhiều hiền tài đích thực, những trí thức thực tài và có tâm huyết với nước, với dân. Chỉ tiếc rằng vai trò của họ chưa được coi trọng, có khi còn bị gạt ra bên lề hoặc bị kỳ thị, mà nguyên nhân, trong nhiều trường hợp, chỉ là do sự khác biệt về quan điểm đánh giá hiện thực xã hội hoặc về tầm nhìn tương lai của Dân tộc. Phải chăng cơ chế Nhà nước bất cập và chưa đủ mở rộng để thu hút người tài, cũng như chưa cải tổ cho phù hợp với đòi hỏi của xã hội tân tiến? Bao giờ vai trò của xã hội dân sự được nhìn nhận và thực sự có cơ hội tích cực góp phần xây dựng đất nước?

Giáo dục và Y tế

Tương lai của Dân tộc tùy thuộc phần lớn vào giáo dục. Không thể phủ nhận rằng nền giáo dục quốc gia đã sản sinh một số nhân tài và góp phần vào việc phát triển Đất nước. Nhưng nhìn chung, trong mấy thập niên qua, nền giáo dục của chúng ta có quá nhiều bất cập về nội dung, phương pháp dạy và học… Việt Nam đã có nhiều nỗ lực “cải cách giáo dục” nhưng không đi đến những đột phá thực chất. Vì sao? Phải đau đớn mà nói rằng vì chúng ta thiếu hẳn một triết lý giáo dục mang tính nền tảng và chiến lược lâu dài.

Hậu quả thê thảm của thực trạng trên là những gì chúng ta đang nhìn thấy trước mắt: Gia tăng các tệ nạn khủng khiếp trong học đường, tội phạm tuổi học sinh sinh viên ngày càng nhiều,  gian dối trong thi cử trở thành bình thường, bằng cấp giả hay nguy hiểm hơn nữa, bằng cấp thật mà kiến thức giả. Kết quả cay đắng là Đất nước có nguy cơ bị tụt hậu về nhiều phương diện.

Nhờ áp dụng các công nghệ mới, y tế Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được một số thành tựu trong việc khám chữa bệnh và y tế dự phòng. Nhân viên y tế ngày càng được đào tạo bài bản và có chuyên môn cao hơn. Nhưng do hệ quả của nền giáo dục nói trên, cũng như  khuynh hướng tập trung vào sức khỏe thể chất và thiếu định hướng y tế toàn diện, nên hệ thống y tế đang bị sa lầy. Bên cạnh tình trạng quá tải trầm trọng tại các bệnh viện Trung ương và việc tăng viện phí ảnh hưởng mạnh tới người nghèo, dư luận nói nhiều đến sự vô cảm, nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của nhân viên y tế…

Nhà nước đã kêu gọi “xã hội hóa” giáo dục và y tế, thiết tưởng nên tạo điều kiện để các tôn giáo trong nước được tham gia trực tiếp vào hai lĩnh vực này.

Lĩnh vực tôn giáo

Trong thời gian qua, nhà cầm quyền đã tạo cơ hội thuận tiện cho các sinh hoạt tôn giáo, hầu hết các cơ sở tôn giáo bị tàn phá trong thời chiến tranh đã được trùng tu, nhiều cơ sở mới đã và đang được xây dựng. Tuy nhiên, qui định pháp luật liên quan đến các tôn giáo vẫn còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được nguyện vọng của các tín đồ, cụ thể nhất là về tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Điểm mấu chốt là các tôn giáo đã được nhìn nhận, nhưng lại chưa có tư cách pháp nhân, nên không thể thực thi và bảo vệ các quyền hiến định của mình, như các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác.

Hiện nay, Nhà nước dự định ban hành một Nghị định “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo”, thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ – CP ngày 01-03-2005. Thật đáng hoan nghênh nếu văn bản này được soạn thảo trên tinh thần đổi mới, thực sự cầu thị để tạo thuận lợi cho tín đồ các tôn giáo được tự do hoạt động, góp phần vào việc phục vụ đồng bào và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng một số người đang băn khoăn vì sợ văn bản này lại là một bước thụt lùi, so với Nghị định nêu trên. Câu hỏi nền tảng là bao giờ các công dân có tôn giáo được đối xử bình đẳng với các công dân khác, theo Hiến pháp và Dân luật, mà không cần đến một Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo nữa?

* * *

Những nhận định trên đây phát xuất từ niềm tin Kitô giáo và trách nhiệm công dân với ước nguyện góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng một đất nước phát triển vững bền, dân chủ và nhân ái. Trong vấn đề này, huấn từ của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, ngày 27-06-2009, với các Giám mục Việt Nam vẫn là định hướng căn bản của Ủy ban Công lý và Hòa bình: “Giáo Hội không hề muốn thay thế Chính quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng nhau, Giáo Hội có thể góp phần mình vào đời sống của đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân”.


Ngày 15 tháng 5 năm 2012, kỷ niệm 121 năm Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự)

ỦY BAN CÔNG LÝ & HÒA BÌNH / HĐGMVN