Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

Người xuất gia không có chuyện... hôn nhau



(Kienthuc.net.vn) “Tôi khẳng định, người xuất gia tu hành theo đức Phật khi thể hiện tình cảm với nhau chỉ có chắp tay hình búp sen để bày tỏ. Còn việc hôn nhau ở người tu hành là không hề có”.
 
Hòa thượng Thích Giác Quang, Phó Ban Trị sự kiêm Chánh Thư ký Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai chia sẻ với Kienthuc.net.vn.
 
Người xuất gia tu hành theo đức Phật khi thể hiện tình cảm với nhau chỉ có chắp tay hình búp sen để bày tỏ
Người xuất gia tu hành theo đức Phật khi thể hiện tình cảm với nhau chỉ có chắp tay hình búp sen để bày tỏ
 
Cần lấy sự Từ Bi để giáo hóa
 
Thưa Hòa thượng, thầy có ý kiến gì về việc các sư, thầy đến phòng Trà, xem ca hát nhạc để gây quỹ từ thiện?
 
Tôi cho rằng đây có thể là những ý tưởng mới của quý sư, thầy trẻ. Các vị này có thể trong quá trình tu học có chút ít học vấn dẫn tới tâm hồn khá phóng khoáng, từ đó mà đi quá xa giới hạnh, đi ngược với giới luật của nhà Phật. 
 
Từ đó họ làm trái quy định của đức Phật định ra về tính kỷ cương, giới luật… 
 
Không chỉ có thế, việc các sư thầy này còn được ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng “khóa môi” Hòa thượng có biết không?
 
Tôi có biết. Quả thật, với tôi lâu nay luôn quý các Sư. Họ là những hình ảnh còn lại để nhắc nhở về bóng dáng của đức Phật khi còn sinh thời. Chính vì thế giới luật của quý Sư được chú ý rất nghiêm.
 
Có ai ngờ… Bản thân thầy sau khi xem những hình ảnh này quả thật thầy thấy các vị sư này có vẻ như quên giới luật. Vì thế hình ảnh này rất dễ khiến cho người khác xem thường các nhà sư tu chân chính.
 
Với tư cách là một trong các lãnh đạo cao nhất của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Đồng Nai, Hòa thượng có ý kiến xử lý như thế nào đối với quý sư, thầy này? 
 
Tôi đã đề nghị Thượng tọa Thích Bửu Chánh, nếu các vị sư này thuộc về Tăng sự ở Đồng Nai thì cần kiết giới tác pháp Yết Ma để cử tội. Các tội này tuy không phải là trọng tội để tới mức phải tấn xuất nhưng cũng thuộc về thô tội (tội lộ ra bên ngoài - PV), vì thế cần cấm túc để sửa đổi, sám hối.
 
Nếu khuyên 3 lần mà không được thì các vị cứ giải quyết theo giới luật của nhà Phật và có ý kiến báo cáo về Ban Trị sự để Giáo hội có hướng xử lý.
 
Việc xử phạt trong Phật giáo luôn lấy Trí tuệ và sự Từ bi của nhà Phật để xử lý
Việc xử phạt trong Phật giáo luôn lấy Trí tuệ và sự Từ bi của nhà Phật để xử lý
Theo Hòa thượng, Thiền viện Phước Sơn xử phạt như vậy có quá nhẹ không?
 
Dù làm việc gì Phật giáo cũng luôn lấy Trí tuệ và Từ bi đưa vào, giống như việc một khúc gỗ mít nếu đưa vào lửa đốt thì nó sẽ thành tro, than nhưng nếu được người chủ đem đi đục đẽo thành hình tượng đức Phật, chắc chắn những người con Phật sẽ quỳ lạy. 
 
Nói như vậy để hiểu, các sư thầy ở đây tuy phạm lỗi nhưng còn có thể sám hối, sửa lỗi, nếu chúng ta biết cách uốn nắn, chỉ dẫn thì các sư có thể trở thành những vị tăng tốt. 
 
Trong đời sống cũng nên có sự khoan dung để người biết lỗi cố gắng tu. Không nên quá nặng nề mà cần hỷ xả, hoan hỷ tha thứ cho những lỗi lầm của họ.
 
Người tu không có chuyện hôn nhau
 
Có một số quý thầy cho rằng, việc ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng “khóa môi” nhà sư là chuyện bình thường. Đó không phải là nụ hôn dung tục, phàm trần mà là lòng biết ơn, thầy nghĩ sao về điều này?
 
Sự thật đối với thế gian, cái hôn có nhiều nghĩa. Người dân có việc đi bên ngoài khi về gặp lại có thể ôm hôn để bày tỏ tình cảm nhớ mong, vui mừng… thì xem như bình thường. 
 
Nhưng đối với người tu đạo thì lại khác. Người tu để thể hiện tình cảm, sự vui mừng khi gặp nhau… thì chỉ chắp tay hình búp sen, cúi đầu chào. Nếu trái điều này là trật cái hướng của người tu, không đúng với giới luật của nhà Phật.
 
Người xuất gia không thể coi nụ hôn là một chuyện bình thường
Người xuất gia không thể coi nụ hôn là một chuyện bình thường
 
Những người xuất gia trong đạo Phật chỉ có cách bày tỏ tình cảm ở mức độ như vậy. Còn đối với thầy nào nói việc thể hiện tình cảm, lòng biết ơn… bằng cách hôn nhau là bình thường thì xa lạ đối với giới luật hàng thiên lý (không có giới hạn - PV).
 
Người ở thế gian sống bằng vật dục thì thấy chuyện này là bình thường. Còn người xuất gia xa lìa phàm tục sống đời phạm hạnh tránh việc tiếp xúc xác thịt thì làm sao có thể bày tỏ tình cảm bằng cách đó được.
 
Nhiều người cho rằng, người tu sao có thể đi đấu giá để mua rượu, Hòa thượng có thể chia sẻ về điều này?
 
Tôi cho rằng dù có làm bất cứ cái gì cũng phải thể hiện đúng oai nghi, tác phong của một người tu hành. Người tu cần nói những gì đúng chánh pháp, làm đúng việc và ở đúng nơi. 
 
Vì thế đối với vấn đề các sư, thầy tham gia đấu giá mua chai rượu mà các báo nêu có thể dễ khiến người xem, nghe đặt vấn đề: Nhà sư mua rượu để làm gì? Lấy tiền đâu mà mua?... Có thể trong trường hợp này tôi cho rằng các sư, thầy này chưa có tế nhị lắm trong cách làm từ thiện. 
 
Sao quý thầy khi mua chai rượu đó không nói ra là chúng tôi không có tiền mà dùng tiền của các Phật tử đóng góp để giúp cho anh gì đó có tiền chữa bệnh, còn chai rượu này chúng tôi gửi lại để quý vị làm những việc khác… Hay có những cách nói khác cho phù hợp mà không mất lòng.
 
Hòa thượng có thể cho lời khuyên đối với các vị Tăng sĩ hiện nay được không?
 
Sau sự việc này tôi cho rằng các thầy bên Thiền viện Phước Sơn hay những thầy liên quan nên nhìn lại chính mình, ăn năn sám hối, nỗ lực tu học.
 
Các sư trụ trì nên xem đây là bài học kinh nghiệm trong việc quản lý, giáo hóa chư tăng khi tiếp xúc với công chúng, cần phải chấn chỉnh oai nghi tu học của các tăng sĩ trẻ và xử lý đúng người đúng tội, làm sao thể hiện được lòng từ bi đúng với tinh thần của nhà Phật.
 
Tôi không phê phán ai hết. Tuy nhiên với người tu hành thì cần phải xem lại tư cách, oai nghi, đạo hạnh... Ngoài ra các Chư Tôn đức cũng nên thường xuyên sách tấn, khuyến cáo, cổ xúy giới luật của tăng già. 
 
Nếu vị nào làm trái giới luật thì tự làm mất giới thể, uy tín, tư cách của mình. Còn nếu các vị làm được như vậy, thì chắc chắn những sự cố đáng tiếc vừa qua sẽ khó có thể xảy ra.
 
Xin cảm ơn Hòa thượng!
 
Hoài Lương - Thái Anh (Thực hiện)

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Có thể có ơn cứu độ nơi các tôn giáo chăng?


Sống là đi tìm sự giải thoát. Trong dòng lịch sử, loài người đã thể hiện việc tìm kiếm đó qua các tôn giáo khác nhau. Các tôn giáo tiêu biểu cho khát vọng sâu xa đó của kiếp người. Có thể nói rằng: có bao nhiêu quan niệm về cứu rỗi, thì cũng có bấy nhiêu tôn giáo. 

Vậy có thể có ơn cứu độ nơi các tôn giáo chăng?

Bài viết này sẽ trình bày những suy tư thần học về ơn cứu độ nơi các tôn giáo.
   
      Bài liên quan >> Về ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo

Ý niệm cứu độ

Cứu độ, theo nguyên ngữ Hy Lạp là sôzô, có nghĩa là được giải thoát khỏi một sự dữ có thể làm nguy hiểm đến tính mạng. Từ nghĩa thông thường đó mà người ta dùng để diễn tả kinh nghiệm tôn giáo: Thiên Chúa cứu rỗi loài người, thần minh cứu độ chúng sinh (1).

Người ta thường nghĩ cứu độ là giải thoát khỏi một thực tại tiêu cực. Tuy nhiên, sự cứu thoát này tự nó không phải là điều cốt yếu: nó chỉ là bước chuyển biến để đạt tới tình trạng viên mãn. Bởi vì, cứu độ có nghĩa là đạt tới sự viên mãn, trọn vẹn, đầy đủ, thực sự là chính mình, là hoàn thành hoá chính mình.

Nói chung, các tôn giáo quan niệm cứu độ là con người được đưa đến cùng đích của đời mình, giúp họ hoàn thành chính mình, tìm thấy thân phận của mình. Con người đang sống là một hữu thể chưa thành toàn, luôn luôn ao ước một cái gì hơn và một cái gì tốt hơn. “Theo kiểu nói của thánh Augustin, đối với một thụ tạo, Thiên Chúa là hạnh phúc, sung mãn, mục đích cuối cùng. Được thông hiệp với Ngài là được tất cả, là thiên đàng, là cứu độ. Kinh thánh dùng nhiều hình ảnh và ẩn dụ để diễn tả trạng thái được cứu độ: yến tiệc, hôn lễ, đời sống vĩnh hằng, bất tử, không còn bị huỷ hoại, ánh sáng, bình an, an toàn, toại nguyện, viên mãn, hài hoà với mọi thụ tạo, trở về nhà Cha, quê hương đích thực, hiển trị với Thiên Chúa, diện kiến Ngài, tham dự sự sống vĩnh hằng và nhiệm màu của Thiên Chúa, hiệp thông trọn vẹn với các thiên thần, anh chị em đồng loại và vũ trụ vật chất.” (2)

Để đạt được tình trạng như thế, tự sức con người không thể vươn tới được, mà phải cần sự tác động của thần linh. Theo Kitô giáo, ơn cứu độ được thực hiện trước tiên nơi con người Đức Giêsu Nazareth; nó đồng hoá với chính con người đó. Và để dự phần vào ơn cứu độ, cần phải tiến vào sự thông hiệp với Ngài. Kinh nghiệm cứu độ trực tiếp gắn liền với việc tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, là Đấng cứu độ.

Giáo lý cổ truyền: “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”

Trong bối cảnh tranh luận về giá trị của phép rửa trong các lạc giáo giữa thế kỷ thứ 3, thánh Syprien, giám mục thành Carthage, đã đưa ra câu châm ngôn trứ danh: “Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ” ("Extra ecclesiam nulla salus").

Thánh Augustin cũng đồng ý với Syprien. Hai vị thánh đã áp dụng thành ngữ này cho trường hợp của những người Kitô lìa bỏ Giáo hội mà theo các lạc giáo; lý do là vì họ phạm đến đức ái, nên đã mất ân sủng.

Một nhân vật khác là Fulgence, giám mục thành Ruspe, là người bảo toàn di sản của thánh Augustin, ra sức chống lại xu hướng lạc đạo. Ông đồng ý với thánh nhân cho rằng việc gia nhập Giáo hội Công giáo là điều kiện để được cứu độ. Ngoài Giáo hội có thể có phép rửa, nhưng phép rửa chỉ đem lại ơn ích bên trong Giáo hội mà thôi. Ai lãnh nhận phép rửa tội ngoài Giáo hội Công giáo là lãnh nhận một bí tích nguyên vẹn, nhưng người đó không được hưởng hiệu quả của bí tích là ơn cứu độ (3), bởi vì “Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ”.

Thành ngữ này thường bị tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, đã chi phối truyền thống Kitô giáo cho đến thời Trung cổ và gần như đạt được tính chất tín lý. Các giáo phụ và các nhà thần học thời Trung cổ đã phổ quát hóa và đem thành ngữ ấy áp dụng vào trường hợp người Do Thái và lương dân. Trong một thế giới toàn tòng Kitô giáo, các ngài tưởng là mọi người trong thế giới đều đã nghe biết về Tin mừng, vì thế các ngài suy luận theo nghĩa đen và áp dụng chặt chẽ những lời Chúa Giêsu: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được ơn cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Không vào Giáo hội tức là đã từ chối Lời Chúa, và vì thế không thể được cứu rỗi.

Giáo thuyết này đã được huấn quyền phê chuẩn. Công đồng Latran IV (năm 1215) tuyên bố: “Chỉ có một Giáo hội toàn cầu: ở ngoài Giáo hội này, chẳng có ơn cứu độ” (Dz 802).

Năm 1302, trong tự sắc Unam sanctam, Đức Boniface VIII đã so sánh Giáo hội với tàu Noê, và khẳng định là không ai ở ngoài Giáo hội Công giáo hoặc thuộc Giáo hội Công giáo nhưng lại không vâng phục giám mục Roma mà có thể được cứu rỗi (Dz 870, 875).

Công đồng Firenze (năm 1442) trích dẫn và phê chuẩn luận đề của Fulgence de Ruspe: “Giáo hội Công giáo Rôma xác tín, tuyên xưng, và rao giảng rằng chẳng một ai trong những người ở bên ngoài Giáo hội Công giáo – không phải chỉ những người ngoại giáo mà cả những người Do thái giáo hay lạc giáo và ly giáo nữa – được tham dự vào cuộc sống vĩnh cửu, mà trái lại sẽ đi vào lửa đời đời đã dành sẵn cho cho ác quỉ và các sứ thần của nó, nếu như ít nhất trong giây phút cuối đời không gia nhập vào Giáo hội” (Dz 1351).

Quan niệm mới: Ơn cứu độ không biên giới

Nhờ việc khám phá ra châu Mỹ (1492), người châu Âu mới biết rằng rất nhiều dân tộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ chưa hề nghe nói đến Đức Kitô. Phần lớn trong số họ đều thuộc về một tôn giáo khác. Vì thế, vấn đề đặt ra là quan niệm thế nào về số phận của những người ngoài Kitô giáo. Không thể giữ vững lập trường kết án và loại trừ như trước đây. Bởi vì, không ai có thể bị kết án nếu không cố ý phạm tội. Đức Piô IX viết: “Phải tin chắc rằng những người không biết đạo thật, nếu là vô tri bất khả thắng, thì không thể coi họ là có tội trước mặt Chúa vì sự vô tri đó”. (4)
         
Chúng ta có thể tìm hiểu xem Kinh thánh quan niệm thế nào về vấn đề này. Trong trình thuật về biến cố dâng trẻ Giêsu vào đền thánh, Tin mừng Luca viết: “Ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân; đó là ánh sáng soi chiếu mọi nước” (Lc 2,30-31).

Thánh Phaolô quả quyết: Thiên Chúa “muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Khi nói về sự phán xét của Thiên Chúa, thánh nhân tin rằng phần thưởng được ban cho mọi người làm điều thiện sẽ giống nhau cho tất cả chứ không phân biệt gì: “Người sẽ ban vinh quang, danh dự và bình an cho tất cả những ai làm điều thiện, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp, vì Thiên Chúa không thiên vị ai” (Rm 2,10-11).

Căn cứ vào ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, công đồng Vaticanô II dạy rằng: “Nếu biết thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, biết cố gắng chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong hành động của mình theo sự hướng dẫn của tiếng lương tâm, thì cả những kẻ không biết đến Phúc âm của Đức Kitô và Giáo hội Người, nhưng lại không do lỗi mình, cũng có thể được cứu rỗi” (LG 16). Sự chu toàn thánh ý Thiên Chúa, được nói ở đây, có nghĩa là làm điều thiện và tránh điều ác, là gắn bó với sự thật, là hoà hợp giữa niềm tin và cuộc sống, là tuân theo lương tâm ngay thẳng.

Nơi khác, công đồng dạy: “Giáo hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của chân lý, chân lý chiếu soi hết mọi người” (NA 2).

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô, trong thông điệp Redemtoris Missio, đề cập đến sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần: "không phải chỉ ở trong những người thiện chí với tư cách cá nhân, mà còn ở trong xã hội và lịch sử, trong các dân tộc, các nền văn hóa, các tôn giáo - và tất cả điều đó luôn qui chiếu về Đức Kitô" (số 82).

Như thế, Thần Khí cũng có thể hoạt động ngoài các bí tích, và cả bên ngoài Giáo hội nữa. Và Thần Khí cũng có thể dùng những tôn giáo khác nhau làm khí cụ cứu rỗi cho tín đồ của mình trong mức độ chỉ một mình Ngài biết.

Vai trò của các tôn giáo trong chương trình cứu độ

Các tôn giáo có phải là những trung gian cứu độ cho các tín đồ của mình không? Các nhà thần học không nhất trí với nhau, và lập trường của họ có thể phân chia thành hai nhóm.

Nhóm thứ nhất, đại diện là Jean Daniélou và Henri de Lubac, chủ trương các tôn giáo chỉ là những hình thái biểu lộ việc con người đi tìm chính lộ. Nói cách khác, các tôn giáo không phải là dụng cụ cứu rỗi do Chúa thiết lập, mà chỉ là sản phẩm phát sinh từ tâm tình đạo giáo của con người. Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho tín đồ các tôn giáo, nhưng không qua trung gian các tôn giáo. Giá như các tôn giáo có vai trò gì trong chương trình cứu rỗi, thì vai trò đó chấm dứt khi Đức Kitô hoàn tất việc cứu rỗi.

Nhóm thứ hai, đại diện là Karl Rahner và Ramond Pannikkar, cho rằng các tôn giáo nằm trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Giáo lý và lễ nghi của các tôn giáo có thể ví như là những phương tiện Thiên Chúa dùng để ban ơn cứu rỗi cho các tín đồ. Các tôn giáo là những lối diễn tả có tính cách xã hội của con người với Thiên Chúa, nên có khả năng giúp tín đồ của họ tiếp nhận ân sủng. Như thế, mặc dù chúng còn chứa đựng những yếu tố bất toàn, nhưng các tôn giáo có thể có một giá trị cứu độ.

Kết luận
         
Trong chương trình của Thiên Chúa, bất cứ ai cũng có thể được cứu độ. Các tôn giáo có thể dẫn đưa con người đón nhận các phương thức cứu độ phù hợp với ý định của Thiên Chúa.
Vì thế, cần phải tránh thái độ quá khích, hay coi rẻ các tôn giáo khác. Trái lại, cần phải nhận định và đánh giá cho đúng những gì là chân thực, thánh thiện tiềm ẩn nơi các tôn giáo, cũng như phải nhận ra những dấu chỉ hoạt động của Chúa Thánh Thần, đang gieo rắc vô vàn mầm mống chân, thiện, mỹ nơi các tôn giáo.

Do đó, công cuộc truyền giáo không đồng nghĩa với việc chiêu mộ tín đồ, nhưng là nhằm làm triển nở các mầm mống đó tới mức sung mãn. Truyền giáo là làm cho các các tín đồ khác vượt qua chính mình, vượt qua các nền văn hóa và tôn giáo, để vươn lên tới Đấng Tuyệt Đối.
Lời nhận định sau đây của Benneth L. Woodward cũng đáng cho chúng ta tâm niệm: “Mẹ Teresa Calcutta, tuy là nữ tu thừa sai của Chúa Kitô, mẹ nhấn mạnh rằng Thiên Chúa muốn người Ấn giáo phải là một tín đồ Ấn giáo đạo hạnh, người Hồi giáo phải là một tín đồ Hồi giáo tốt lành, người Phật giáo phải là một phật tử hiền hòa”.
Đó phải là tinh thần của chúng ta khi sống trong một xã hội đa tôn giáo.

Lm Gioan Phạm Quang Long

Chú thích

1.     Xem Điển ngữ Thần học Thánh kinh, mục từ cứu rỗi trang 399.
2.     P. Nguyễn Thái Hợp, OP, Đường vào thần học về các tôn giáo, Dấn thân – Houston 2004, trang 106.
3.     Tham khảo Peter Neuner, Giáo hội học qua các tác giả, trang 124-125
4.     Piô IX, diễn từ Singulari Quadam ngày 9-12-1854. 

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Về ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo

LTS: Cha Raniero Cantalamessa, thần học gia Phủ Giáo Hoàng trong bài nhận định liên quan đến bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần này đã đề cập đến vấn đề ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo như sau:

Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta 



Cha Raniero Cantalamessa, thần học gia Phủ Giáo Hoàng
Thánh Gioan, một trong các tông đồ, thấy một người không trong nhóm các môn đệ nhân danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ liền cấm người này làm thế. Khi ông thuật lại điều này với Chúa Giêsu, Chúa phán với ông rằng “Đừng ngăn cản người ta …vì ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9:39, 40).

Đây là chủ đề có một tầm quan trọng hiện nay. Chúng ta nghĩ thế nào về những người ngoại, những người ăn ở nhân lành và có những dấu chỉ của thần khí, mặc dù không tin nơi Đức Kitô và không thuộc về Giáo Hội. Họ có thể được cứu rỗi không?

Thần học đã luôn nhìn nhận khả năng, theo đó, Thiên Chúa có thể ban ơn cứu độ cho một số người theo những cách thức bên ngoài những cách thức thông thường là có đức tin nơi Đức Kitô, chịu phép rửa tội và là thành viên của Giáo Hội. 

Xác tín này đã được củng cố thêm trong thời đại tân tiến này, sau các khám phá địa lý và những tiến bộ trong khả năng truyền thông giữa các dân tộc khiến cho cần thiết phải ghi nhận rằng có vô số những con người, mà không phải lỗi tại họ, đã không hề được nghe lời công bố Tin Mừng, hay nghe trong một cách thế không phù hợp, từ những người đi chinh phục đất mới hay những kẻ thực dân lừa đảo, đến mức khó có thể chấp nhận được. 

Công Đồng Vaticanô II dạy rằng “Thánh Thần, trong một cách thế chỉ mình Chúa biết, ban cho mọi người khả năng được liên kết với mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, và do đó, được cứu rỗi” ["Gaudium et Spes – Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng" số. 22]. 

Đức tin Kitô Giáo của chúng ta đã thay đổi chăng? Không, chừng nào chúng ta tiếp tục tin vào hai điều này: Thứ nhất, Chúa Giêsu là, một cách khách quan và chân thật, đấng trung gian và đấng cứu độ duy nhất của toàn thể loài người, và rằng những ai không biết Ngài, nếu họ được cứu rỗi, đã được cứu rỗi nhờ vào Ngài và vào cái chết cứu độ của Ngài. Thứ hai, là những ai, dù không thuộc vào Giáo Hội hữu hình, nhưng có “ý hướng” khách quan về Giáo Hội, hình thành một Giáo Hội rộng lớn hơn mà chỉ có Chúa biết.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dường như đòi hỏi hai điều từ những người “ngoại”: họ không “chống” lại Ngài, nghĩa là họ không tích cực chống lại đức tin và các giá trị của đức tin, chẳng hạn, họ không tự nguyện đặt mình chống lại Thiên Chúa. 

Thứ hai, nếu họ không thể phụng sự và yêu mến Thiên Chúa, tối thiểu, họ phụng sự và yêu mến hình ảnh của Ngài, là con người, đặc biệt, những người đang cần giúp đỡ. Thật vậy, đoạn Tin Mừng tiếp tục nói về những người “ngoại” với những lời sau: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.

Tuy nhiên, sau khi minh xác về tín lý, tôi tin cũng thực cần thiết để sửa đổi một số sai lầm khác: thái độ nội tâm của chúng ta, tâm lý của chúng ta như những tín hữu. Ta có thể hiểu, nhưng không thể chia sẻ, mâu thuẫn khó che đậy của một số tín hữu khi thấy đặc quyền liên quan đến đức tin vào Chúa Kitô và địa vị thành viên trong Giáo Hội của mình sụp đổ. Người ta nói: “Vậy thì là một Kitô hữu tốt có ích gì cơ chứ?”.

Trái lại, chúng ta nên vui mừng vô biên trước những khai mở mới này của thần học Công Giáo. Biết rằng anh chị em bên ngoài Giáo Hội cũng có cơ may được cứu rỗi thì còn có gì có sức giải thoát và thuyết phục về lòng quảng đại và ý chí vô biên của Thiên Chúa hơn là lời này “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2:4). Chúng ta hãy biến ao ước của Môsê thành ước vọng của chính chúng ta như đã được ghi trong bài đọc thứ Nhất Chúa Nhật tuần này: “Phải chi ĐỨC CHÚA ban Thần Khí trên toàn dân của Người!”. (Ds 11:29).

Biết như thế liệu chúng ta có nên để mọi người yên trong xác tín của họ và ngừng truyền bá đức tin nơi Chúa Kitô vì người ta cũng có thể được cứu rỗi bằng những con đường khác mà? Dĩ nhiên là không.

Nhưng điều mà chúng ta nên làm là nhấn mạnh đến lý do tích cực hơn là lý do tiêu cực. Lý do tiêu cực là thế này: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi vì ai không tin vào Ngài sẽ bị kết án muôn đời”; lý do tích cực là thế này: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi vì thật là tuyệt vời để được tin nơi Ngài, được biết Ngài, để được có Ngài kề bên như đấng cứu độ trong cuộc sống và trong giờ chết”.

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Câu chuyện về hai vị thiền sư

Có một vị thiền sư trú trong túp lều tranh ở trên núi, một buổi tối khi đi thiền hành trở về, nhìn thấy một tên trộm đang chiếu cố túp lều tranh của mình nhưng tìm không được vật gì cả. Ngài bèn cởi chiếc áo ngoài đang mặc trên người và đứng ngoài cửa đợi tên trộm ra, vì ngài sợ làm kinh động tên trộm.
Tên trộm vừa quay ra thì gặp thiền sư, trong lúc tên trộm hốt hoảng vị thiền sư liền nói: “Anh bạn! Đường sá xa xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về tay không, đêm khuya rồi, khoác chiếc áo này mà về cho đỡ lạnh. Nói xong ngài cầm chiếc áo khoác lên thân tên trộm. Tên trộm xấu hổ, cúi đầu rồi chạy thẳng xuống núi không dám nhìn lại.

Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm và nói: “Rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi”.

Vài hôm sau, khi thiền sư đang mở to đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ông khoác lên thân tên trộm mấy hôm trước đó được xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư vui vẻ nói: “ Cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.

Lại có câu chuyện khác cũng tương tự. Trong thiền viện của thiền sư Tiên Nhai, có một vị học tăng rất ham chơi, vị này không chịu nổi cái cảnh vắng lặng yên bình của chốn thiền môn. Vào những buổi tối vị tăng sinh này thường ra vách tường sau chùa, đặt một cái ghế để leo qua tường ra bên ngoài chơi.

Sau khi thiền sư biết được, ngài không nói với ai. Một lần, vị tăng sinh này trèo tường trốn đi chơi, ngài đi theo phía sau và đem chiếc ghế để qua một bên rồi ngồi vào chỗ đó đợi vị học tăng trở về. Đêm khuya vắng vẻ, vị học tăng trở về, không biết chiếc ghế đã bị di chuyển nên vẫn leo qua vách tường và thò chân xuống ghế như mọi khi để vào chùa, nhưng khi vừa đặt chân xuống thì cảm thấy chiếc ghế dưới chân mình sao mềm mại, là lạ, cúi xuống nhìn thì hoá ra mình đang đứng trên vai vị thiền sư thầy mình. Lập tức vị học tăng hồn bay phách tán quỳ xuống nói không ra lời. 

Thiền sư liền đỡ vị học tăng đứng lên và nhẹ nhàng nói: “Đêm khuya sương nhiều, cẩn thận chứ ướt lạnh, hãy nhanh vào phòng nghỉ ngơi”.

Sau khi về phòng vị tăng sinh cứ phập phồng lo sợ không yên, trắng đêm không ngủ, lo sợ thiền sư sẽ trách phạt mình trước mặt đại chúng. Nhưng sự việc thì ngược lại, cứ ngày ngày trôi qua, thiền sư không nhắc đến chuyện, cũng không nói cho ai biết. Vị tăng trẻ tự trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn vô cùng, từ đó về sau không dám trốn ra ngoài chơi mà quyết chí tu học, cuối cùng trở thành một vị tăng nổi tiếng đương thời.

Nếu bạn là thiền sư bạn sẽ xử lý thế nào với hai sự việc như thế? Tôi nghĩ, trong câu chuyện thứ nhất. Những người bình thường thì sẽ cùng tên trộm vật lộn hoặc sẽ la lớn lên “trộm, trộm…”. Câu chuyện thứ hai, đối những với người bình thường thì sẽ đem lỗi của vị học tăng nói trước mặt mọi người, sau đó sẽ có hình thức trách mắng quở phạt riêng cho vị ấy.

Nếu làm như vậy kết quả sẽ như thế nào nhỉ? Tôi nghĩ có thể xảy ra hậu quả thế này, câu chuyện thứ nhất: tên trộm sẽ đánh bị thương hoặc giết chết vị thiền sư hoặc có thể vị thiền sư đánh tên trộm bị thương và tên trộm sẽ trở lại trả thù thiền sư vào một ngày gần đó. Câu chuyện thứ hai, sau khi vị học tăng bị quở phạt trước mọi người sẽ cảm thấy rất xấu hổ với bạn bè, trong lòng buồn phiền thối chí tu học cuối cùng trở thành con người bình thường, và có thể từ bỏ lối sống thiền môn.

Hai vị thiền sư này xử sự không giống những người bình thường như chúng ta, mà lấy sự khoan dung đại trí, đại bi để thay đổi một tên lãng tử thành vị danh tăng. Con người không phải là thánh nhân nên tất nhiên có những sai trái, đối với những người phạm lỗi chúng ta nên có thái độ rộng lượng khoan dung. Im lặng mà hơn cả to tiếng trách móc đây là phương pháp giáo dục tốt nhất. 

Khoan dung là một phẩm chất đạo đức tốt, khoan hồng tha thứ lỗi cho người giống như ngọn gió mùa xuân mang mưa xuân đến thấm nhuần cây cỏ làm vạn vật thêm xanh tươi. Khoan dung còn hơn cả vàng, khoan dung là một phẩm chất không thể thiếu trong mỗi con người chúng ta.


Tác giả: Văn Đan
Người dịch: Như Nguyện

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Chuyện kể về một linh mục Công Giáo trên tàu Titanic



VRNs (21.04.2012) - Toronto, USA - Những ngày vừa qua đã có một loạt các hoạt động kỷ niệm 100 năm tàu Titanic gặp nạn diễn ra trên toàn thế giới, nhất là tại thành phố Belfast, nơi “khai sinh” ra con tàu.
Trong số những bí mật chưa được khám phá hết về vụ đắm tàu lịch sử này có câu chuyện về một linh mục Công Giáo, cha Thomas Byles, người đã sẵn sàng nhường phao cứu hộ cho người khác để ở lại trên con tàu Titanic và ban các bí tích sau cùng cho các nạn nhân.

Cha Byles khi ấy 42 tuổi, đang trên chuyến hải trình định mệnh đến New York để làm lễ cưới cho người em của mình là William.
Một số nạn nhân sống sót trong thảm kịch Titanic kể lại rằng khi con tàu đâm vào khối băng ngầm thì cha Byles đang đọc kinh thần vụ ở tầng trên của boong tàu. Khi đó là ngày Chúa Nhật 14 tháng 4 năm 1912.
Cũng theo các nhân chứng có mặt, khi con tàu sắp chìm, vị linh mục này đã mau chóng giúp đỡ các trẻ em và phụ nữ xuống các xuồng cứu hộ, đồng thời ngài cũng tranh thủ giải tội, ban ơn xá giải và sau đó thì lần chuỗi mân côi với các hành khách đang gặp nạn trên tàu.
Bà Agnes McCoy, một trong những nạn nhân sống sót trong thảm họa này, kể lại: “Khi con tàu sắp chìm, Cha Byles đứng dưới boong tàu cùng với các tín hữu Công Giáo; các tín hữu Tin lành và Do thái cũng quỳ cầu nguyện quanh ngài.”
Bà Agnes kể lại với tạp chí New York Telegram ra ngày 22 tháng 4 năm 1912 rằng “cha Byles âm thầm lần chuỗi cầu nguyện cho các linh hồn sắp phải lìa bỏ cõi đời.”
Bạn của cha Byles là cha Patrick McKenna cho biết: “cha Byles đã hai lần từ chối xuống xuồng cứu hộ và để dành chỗ đó cho người khác. Ngài sẵn sàng ở lại trên tàu để hoàn thành trọn vẹn vai trò của mình trong tư cách một linh mục khi mà người khác đang cần đến sứ vụ của ngài.”
Câu chuyện về cha Thomas Byles quả thật là một nét đẹp và đầy ý nghĩa giữa những tang thương và chết chóc trong thảm kịch Titanic.
Anthony Dũng
Dựa theo Patrick B. Craine

Nguồn: Chuacuuthe.com
Tựa đề là của PK

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Nhiệt thành của thập giá - Gm Nguyễn Văn Khảm


Tuần Thánh bắt đầu với Chúa nhật Lễ Lá và Phụng vụ Lễ Lá lại tiến hành với hai nhịp tương phản. Bắt đầu là cử hành việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong tư cách một vị vua, được dân chúng đón tiếp trọng thể, ngập tràn tiếng reo vui. Rồi ngay sau đó trong Thánh Lễ, thay cho bài Tin Mừng lại là bài tường thuật cuộc thương khó của Chúa, cuộc thương khó đầy máu và nước mắt. Hội Thánh có ý gì khi liên kết hai sự kiện tương phản này? Tại sao không đợi đến Thứ Sáu Tuần Thánh để công bố bài thương khó mà phải đọc ngay từ Chúa nhật Lễ Lá? Đã hẳn có nhiều ý nghĩa phong phú hàm chứa ở đây cần được khai triển. Một trong những nội dung đáng quan tâm là Hội Thánh muốn làm nổi bật đường lối cứu thế của Chúa Giêsu và mời gọi con cái mình bước theo Thầy.


Khi kể lại việc Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, thánh Gioan ghi nhận: “Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt thành lo việc Nhà Chúa mà tôi đây phải thiệt thân” (Ga 2,17). Một số Kitô hữu đã liên kết từ “nhiệt thành” ở đây – cũng như việc Chúa Giêsu được đón rước trọng thể vào thành Giêrusalem trong tư cách một vị vua – với phong trào chính trị được gọi là “Nhiệt Thành-zelos” thời bấy giờ. Ngoài ra người ta còn kết nối sự kiện này với lời các thượng tế tố cáo Chúa Giêsu trước tòa Philatô: “Ai xưng mình là vua thì chống lại Cêsarê” (Ga 19,12). Tất cả để dẫn đến kết luận Chúa Giêsu là nhà cách mạng chính trị.

Phong trào chính trị có tên gọi “Nhiệt Thành” được khơi nguồn từ ông Mattathias, cha của anh em nhà Macabê. Vào thời đó, vua Antiôkô cưỡng bức người Do Thái phải chối đạo và tế thần trên bàn thờ, nhưng ông Mattathias tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không tuân theo lệnh vua mà bỏ việc thờ phượng của chúng tôi để xiêu bên phải, vẹo bên trái” (1 Mac 2,22). Và khi có một người Do Thái tiến ra tế thần trên bàn thờ theo chỉ dụ của nhà vua, thì sách Macabê kể lại: “Ông Mattathias bừng lửa nhiệt thành… ông nhào tới hạ sát hắn ngay tại bàn thờ. Ông cũng giết luôn viên chức của vua có nhiệm vụ cưỡng bức người Do Thái tế thần, rồi ông phá đổ bàn thờ”. Sau đó sách Macabê kết luận: “Ông bừng lửa nhiệt thành đối với Lề Luật giống như ông Pinêát trong vụ Dimri, con của Xalu” (2,23-26). Kể từ lúc đó, từ ngữ “nhiệt thành-zelos” trở thành khẩu hiệu diễn tả quyết tâm dùng sức mạnh và bạo lực để bảo vệ đức tin, bảo vệ Lề Luật.

Vào thời Chúa Giêsu, không ít người Do Thái đi theo phong trào này, chủ trương dùng bạo lực để xua đuổi đế quốc Rôma, giành lại chủ quyền và độc lập của dân tộc. Dựa vào một số chi tiết trong các sách Tin Mừng, người ta cũng nhìn Chúa Giêsu như một nhà cách mạng chủ trương dùng bạo lực để xây dựng một vương quốc chính trị. Đồng thời, dọc dài lịch sử Giáo Hội, hình ảnh Chúa Giêsu như một nhà cách mạng cũng được vận dụng để biện minh cho việc sử dụng bạo lực nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Thế nhưng đây có thực sự là ý hướng của Chúa Giêsu? Khi suy niệm về việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem cách trọng thể, Đức Bênêđictô XVI trả lời: “Không. Làm cách mạng bằng bạo lực, nhân danh Thiên Chúa để giết người, đó không phải là đường lối của Chúa. Lòng nhiệt thành của Người đối với vương quốc Thiên Chúa được thể hiện bằng cách thức hoàn toàn khác”.

Trong ngày Lễ Lá, hình ảnh Chúa Giêsu cỡi trên lưng lừa tiến vào Giêrusalem làm dội lại lời tiên tri Zacaria: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi. Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng; khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (9,9). Vào thời tiên tri Zacaria cũng như vào thời Chúa Giêsu, con ngựa mới là biểu tượng của sức mạnh, còn lừa là phương tiện của người nghèo. Vì thế hình ảnh Vua Giêsu ngồi trên lưng lừa diễn tả một vị vua hoàn toàn khác. Người là vua của hòa bình, vua của người nghèo, vị vua đơn sơ và khiêm tốn.

Cũng lúc ấy, chúng ta khám phá lý do tại sao Phụng vụ Lễ Lá được bắt đầu bằng việc tưởng niệm Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong vinh quang, rồi được tiếp nối bằng việc công bố bài thương khó. Để thấy rõ hơn chân dung của vị vua hòa bình. Để thấy rõ hơn ý nghĩa của “sự nhiệt thành”, không phải thứ nhiệt thành của bạo lực nhằm xây dựng một vương quốc trần thế, nhưng là sự nhiệt thành của Thập Giá, nhiệt thành của tình yêu tự hiến trọn vẹn.

Sự nhiệt thành ấy cũng chất vấn cách nhìn và cách sống của người môn đệ Chúa Giêsu ở mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh. Có những lúc người môn đệ Chúa cũng bị cám dỗ sử dụng bạo lực để gọi là phục vụ Nước Chúa. Nếu chưa phải là những hành động bạo lực thì cũng là những lời nói và ứng xử bạo lực. Dù là hành động hay lời nói thì gốc rễ vẫn là sự căm thù chất chứa trong tâm hồn, đôi khi được ẩn giấu dưới lớp áo nhiệt thành, và sự căm thù ấy đã dẫn đến biết bao hậu quả tai hại cho chính Hội Thánh của Chúa. “Chúng ta đã biết quá rõ những hậu quả tàn ác của thứ bạo lực với động cơ tôn giáo. Bạo lực không xây dựng vương quốc Thiên Chúa, vương quốc của nhân tính. Ngược lại, bạo lực là khí cụ ưa thích của tên phản-Kitô, cho dù nó núp bóng tôn giáo. Nó không phục vụ nhân loại mà phục vụ sự phi nhân” (Benedict XVI, Jesus of Nazareth, tome II, 15).

“Chúa Giêsu đã thiết lập tiêu chuẩn đánh giá lòng nhiệt thành chân chính, đó là lòng nhiệt thành của tình yêu tự hiến, và sự nhiệt thành này phải trở nên mục tiêu của đời sống Kitô hữu”. Suy tư này của Đức Bênêđictô XVI đáng cho mỗi người Kitô hữu ghi nhớ để soi sáng lời nói và hành động của mình. Nhất là trong Tuần Thánh, khi đi đàng Thánh Giá, khi ôn lại những chặng đường trong cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta.

Lễ Lá 2012
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

Người Công giáo phải tôn trọng sự thật như thế nào?


HỏiXin cha giải thích rõ điều răn thứ tám và trường hợp được phép không phải nói sự thật. 

Trả lời 

Thiên Chúa là Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối. Nghĩa chỉ nơi Ngài mới có chân lý hay sự thật, sự thiện hảo và tuyệt mỹ  mà thôi. 

Chúa Giêsu cũng đã nói rõ điều này với các môn đệ: Thầy là đường là sự thật và là sự sống. (Ga 14:6) . Như thế, tôn trọng sự thật, sống và hành động trong chân lý là bước đi theo Chúa Kitô, sống theo đường lối của Thiên Chúa là làm  điều đẹp lòng Chúa nhất vì nó thể hiện  cách cụ thể ước muốn thuộc về Ngài là nguồn mạch mọi chân lý, công bình, yêu thương, nhân hậ, khoan dung và tha thứ. 

Thế giới ngày nay điên đảo chỉ vì con người ở khắp nơi không biết tôn trọng sự thật, thích thề gian , dối trá, chà đạp công lý và bác ái để thi nhau làm những điều gian ác, xấu xa, không xứng đáng với nhân phẩm và địa vị của mình là "linh ư vạn vật" theo tinh thần văn hóa Đông Phương. 

Ngạn ngữ Việt-Nam có câu: cái lưỡi không xương trăm đường ngoắt ngoéo, hoặc yêu nên tốt ghét nên xấu. Có  nghĩa là chỉ vì tư lợi hay đố kỵ hiềm khích, mà người ta có thể dễ dàng đổi trắng thay đen, vo tròn, bóp méo sự thật để phục vụ cho lợi ích của riêng mình hay của phe nhóm của mình.

Đáng buồn thay là một số  người có trách nhiệm và sứ mạng rao giảng chân lý, làm chứng cho sự thật, lại nhắm mắt, bịt tai trước những thực tế gian ác, dối trá, lừa đảo, bất công và bóc lột người của chế độ cai trị. Tệ hại hơn nữa là họ còn trơ trẽn uốn ba tấc lưỡi để ca tụng bản chất  xảo trá, gian dối, phi luân và vô nhân đạo  để cầu lợi hoặc muốn được tiến cử trong tham vọng uy quyền.

Nhưng họ quên một điều rất quan trọng là , dù nhìn dưới góc độ nào, thần học hay triết học  mà kết quả lượng giá (evaluated) thực tiễn cho thấy không hề mang lại hay phục vụ cho lợi ích tinh thần và  vật chất chính đáng của con người, thì mọi lý thuyết, chủ thuyêt hay học thuyết kia chỉ đáng quăng vào thùng rác mà thôi. Chúa nói: " ai có tai nghe,  thì nghe." ( Mt 13 : 43; Mc  4: 23; Lc 8:8) 

Chính vì  không muốn hay không biết phân biệt làn ranh giữa sự thật và sự gian dối, sự thiện và sự dữ, cũng như  không  lấy sự thật làm thước đo cho mọi suy tư, quyết định và hành động nên không một ai có thể thuyết phục được người khác tin những hứa hẹn hoa mỹ về một thiên đường trần gian, dù hiểu  theo cánh chung luận nào.

Riêng trong phạm vi tương giao giữa  người với nhau, nếu không tôn trọng sự thật thì không ở đâu  người ta có thể xây dựng được một  liên hệ  tốt đẹp, lâu bềnđể làm chung  được việc gì hữu ích, vì chỉ có sự thật mới giải thoát con người khỏi “mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha.” ( 1 Pr 2:1) 

Để tránh nguy cơ gian xảo đó, điều răn Thứ Tám của Chúa cấm tráo trở sự thật trong mọi giao tiếp với tha nhân. Lời truyền dạy luân lý này xuất phát từ ơn gọi của dân thánh là dân được chọn làm nhân chứng cho Thiên Chúa là Đấng chân thật và là chân lý.” (x. SGLGHCG, số 2464). 

Sau đây là các tội phạm đến chân lý tức nghịch giới răn thứ tám cần phải tránh: 

1- Nói dối là trực tiếp chối bỏ hay tráo trở sự thật về một sự kiện nào đó. Thí dụ, chối không nhận tội để khỏi bị phạt hay bồi thường thiệt hại cho người khác. Tùy hoàn cảnh và sự việc mà tội nói dối trở nên  nặng hay nhẹ. Thí dụ, nói dối về  phẩm chất của một món hàng để bán với giá cao, gây thiệt hại cho người tiêu thụ,thì lỗi đức công bằng và bác ái, đòi hỏi phải tôn trọng lợi ích tinh thần và thể lý của người khác như lợi ích của chính mìnhNgược lại,  nếu nói dối về đời tư và lý lịch cá nhân để lường gạt tình và tiền của ai  sẽ gây thiệt hại nặng cho người khác hơn  là nói dối về phẩm chất món hàng.v.v . Thí dụ :  nói dối mình chưa có chồng hay vợ để lừa gạt người khác kết hôn. Trong trường hợp này, hôn phối sẽ không thành sự (valid) theo giáo luật vì gian dối.  

2- Làm chứng gian và bội thệ (false witness and perjury): đây là tội nặngkhông những đối với luật pháp xã hội mà đặc biệt nghịch  điều răn thứ tám của Chúa truyền dạy xưa kia: “Ngươi không được làm chứng gian hại người”. ( Xh 20:16). Sau này, khi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ,  Chúa Giêsu cũng đã căn dặn các môn đệ: “Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ma qủy.” (x Mt 5:37) 

Trong đời sống xã hội ở khắp nơi ngày nay, làm chứng gian và bội thệ  có thể làm thiệt hại lớn lao cho người khác và ngăn cản thi hành công lý. Một phạm nhân có thể bị tù tội nhiều năm hay được trắng án vì lời chứng thực hay thề gian của nhân chứng. Vì thế, người  bội thệ – hay thề gian – sẽ bị pháp luật trừng phạt đíchđáng. 

Trong Giáo Hội, làm chứng gian cũng gây trở ngại cho việc thành sự ( validity) của bí tích. Thí dụ, “chứng gian cho một người đã kết hôn để người này dối gạt kết hôn với người khác thì hôn phối không thành sự (invalid).” (Giáo luật số 1098). Người chứng gian chắc chắn phạm tội lỗi giới răn Thứ Tám. Riêng ở Mỹ, khai gian (nói dối) để hưởng các trợ cấp xã hội như wellfare, foodstamps, single parent, bồi thường tai nạn xe cộ ... đều có tội phạm điểu răn thứ tám và lỗi đức công bình. Ai giúp người khác khai gian, thề dối để kiếm lợi đều có tội nghịch điều răn thứ tám và phép công bình, đòi hỏi phải tôn trọng của công cũng như của riêng. Nghĩa là không thể nói : khai gian để lấy tiền của chánh phủ hay của công ty thì không có tội. Không có giáo lý nào dạy hay cho phép làm điều này. 
Trường hợp không buộc phải nói sự thật: 
Tuy nhiên, trong thực hành, luật đòi tôn trọng sự thật cũng không gạt bỏ thi hành đức bác ái Kitô Giáo trong một số trường hợp. Nghĩa là có những hoàn cảnh người ta không buộc phải nói sự thật cho người khác biết. Về điểm này, Giáo lý của Giáo Hội nói rõ như sau :" Vì lợi ích và sự an toàn của tha nhân, sự tôn trọng cuộc sống riêng tư và công ích, đó là lý do đủ để không cho người ta biết điều họ muốn biết.” (x. SGLGHCG, số 2284).

Cụ thể áp dụng như sau: 

1- Liên quan đến bí tích hoà giải, cha giải tội không được phép tiết lộ bất cứ điều gì nghe được từ hối nhân trong toà giải tội, dù đó là lời thú tội ngoại tình hay sát nhân. Nghĩa là không được dùng những điều nghe được trong toà giải tội để tố cáo hay làm hại ai vì bất cứ lý do nào. Đây là ấn toà cáo giải (seal of confessions) buộc mọi linh mục phải tuyệt đối giữ kín. Ai vi phạm sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết. (x. Sđd,số 2490;  giáo luật số 983 &1388 triệt 1) 

2- Trong xã hội, những người có bổn phận giữ gìn bí mật quốc phòng liên hệ đến an ninh quốc gia, những luật gia, tâm lý gia, tâm lý trị liệu (psychotherapist) đều  không được phép tiết lộ những bí mật quân sự  và nghề nghiệp đòi buộc phải giữ kín vì lợi ích của quốc gia hay của các thân chủ đã tín nhiệm tiết lộ cho mình. Các bác sĩ cũng không cần phải nói sự thật về bệnh tình cho bệnh nhân biết để tránh gây hoảng hốt và thất vọng cho họ. (x. Sđd ,số 2491). 

3- Riêng về đời tư của người khác, dù biết sự xấu của ai thì vì đức bác ái, không được tố cáo cho người khác biết về sự xấu còn đang trong vòng kín đáo. Thí dụ, biết người nào đang  ngoại tình với ai, nhưng chuyện này còn trong vòng kín ít người biết. Mình biết  được, thì đức bác ái đòi buộc không được  tố cáo thêm cho người khác biết khiến sự xấu trở thành công khai, gây thiệt hại nặng cho danh dự của người liên hệ. Nếu có, trong trường hợp này, chỉ nên cầu nguyện cho họ, và nếu thuận tiện,  thì  tìm cách kín đáo khuyên bảo họ theo tinh thần lời dạy của Chúa Giêsu về việc "sửa lỗi anh  em" (Mt 18: 15-17 ) mà thôi.

Nói khác đi, không ai có bổn phận phải đi tố cáo cho người khác những gì hoàn toàn thuộc về đời tư của một cá nhân, một gia đình. Nhưng ngược lại,  nếu cá nhân hay tập thể  làm những điều xấu có hại cho lợi ích chung của nhiều người khác hay cho cả cộng đồng, thì vì  công ích chung, lại buộc phải tố cáo sự xấu hay gian dối .  Thí dụnếu biết rõ người nào đã có gia đình, nhưng đang tìm cách lấy người khác bằng cách nói dối là chưa hề kết hôn, hay người phối ngẫu đã chết, thì vì lợi ích của người đang bị dối gạt, và của người phối ngẫu đang bị phản bội kia, người biết có bổn phận phải tố cáo việc này với thẩm quyền có trách nhiệm. Cụ thể là trình sự việc cho linh mục đang giúp lo thủ tục kết hôn cho người kia biết để ngăn chặn kịp thời sự xấu, tai hại. Đây là việc bác ái, công bằng và lương tâm đòi buộc phải làm. Nếu không, sẽ có lỗi là dung túng hay cộng tác vào việc xấu đã biết. 

Cũng vậy, khi biết rỏ có kẻ làm hàng giả, pha chế đồ ăn với hoá chất có hại cho sức khoẻ của người tiêu thụ thì cũng buộc phải tố cáo để tránh cho công chúng khỏi bị thiệt hại do việc làm thiếu lương thiện nói trên gây ra.  

Cũng thế, với những kẻ đang lường gạt phụ nữ dưới chiêu bài “hôn nhân ngoại quốc” hay tuyển mộ công nhân đi làm xa với lương cao nhưng thực tế chỉ là mua bán những phụ nữ đáng thương này cho dịch vụ mãi dâm hay nô lệ tình dục  rất tội lỗi và khốn nạn này, thì buộc phải lên tiếng tố cáo việc làm vô đạo này của lũ người vô luân, mất hết lương tri đó cho công luận biết  để cứu nguy cho các nạn nhân. Đây là vấn đề lương tâm và đạo đức buộc phải làm, không thể bỏ qua được. Nếu không, sẽ có tội dung thứ hay cộng tác vào việc làm tội lỗi của kẻ khác. Cách riêng, các linh mục có bổn phận dạy dỗ cho giáo dân biết về vấn đề này vì lợi ích thiêng liêng của họ. Do đó, không nên chứng hôn cho những cặp muốn lấy nhau để được ra nước ngoài, chứ không vì yêu thương và muốn sống bí tích hôn phối thực sự.

Ngoài ra, nếu biết rõ ai không phải là tín hữu Công giáo, hoặc ai đang sống chung như vợ chồng mà chưa kết hôn trong Giáo Hội, nhưng cứ lên rước Mình Máu Thánh Chúa khi tham dự Thánh Lễ, thì người biết phải tố cáo việc này cho cha xứ nơi các đương sự đến dự thánh lễ để ngăn cản họ, vì theo giáo lý, giáo luật họ không được phép làm như vậy.  

Cũng trong trường hợp tương tự, nếu biết kẻ sát nhân đang lẫn trốn ở đâu, nhất là biết có kẻ khủng bố đang dự định phá hoại, đặt bom ở chỗ nào, thì buộc phải tố cáo kín cho nhà chức trách biết để bắt và trừng trị những kẻ đó  hầu  tránh tai họa lớn cho nhiều người.

Nhưng nếu có người đang cầm dao hoặc súng đi tìm ai để sát hại, thì lại không được chỉ chổ trốn của nạn nhân cho hung thủ. Nếu chỉ chỗ để nạn nhân phải thiệt mạng thì sẽ mắc tội cộng tác vào việc sát nhân. Không ai buộc phải ngay thẳng, nói thật trong trường hợp này, vì kẻ  mưu sát là kẻ đang muốn làm sự dữ, nên  tuyệt đối không ai được phép cộng tác vào việc độc dữ này vì bất cứ lý do gì.

Tóm lại, nói chung, phải tôn trọng sự thật vì Thiên Chúa là Ðấng chân thật. Không được nói dối và thề gian để mưu tư lợi hay để làm hại ai. Tuy nhiên cũng có những trường hợp cho phép người ta không cần nói sự thật vì lợi ích chung hay riêng, như  đã nói ở trên..

Mặt khác, cũng vì tôn trọng sự thật và để tránh những thiệt hại và lạm dụng của những người gian manh hay không hiểu rõ giáo lý, chúng ta cũng phải vì lương tâm mà lên tiếng tố cáo những sai trái của người khác trong các trường hợp cụ thể  nói trên đây.

Ước mong những lời giải đáp trên đây thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

"Xêda và Chúa không ở cùng một cấp độ"

Bài Giảng của Đức TGM Leopoldo Girelli Chúa Nhật XXIX TN A

Nhà Thờ Hàng Bột
Tổng Giáo Phận Hà Nội
Ngày 16. 10. 2011

Anh chị em thân mến,

Tin Mừng hôm nay kết thúc với những lời nổi tiếng của Đức Giêsu, để lại dấu ấn trong lịch sử: “Hãy trả cho Xê-da những gì thuộc Xê-da và hãy trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.” Chúng ta cần lưu ý rằng đây không phải là Thiên Chúa hoặc Xê-da mà là Thiên Chúa và Xê-da, mỗi vị trong cấp độ xứng hợp riêng của mình. Những lời của Đức Giêsu là khởi đầu của sự tách biệt giữa tôn giáo và chính trị, những thực tại đã gắn chặt với nhau từ trước trong nhiều dân tộc và chính thể.

Về điểm này, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI dậy rằng “Nhà nước không nên áp đặt tôn giáo nhưng phải bảo đảm tự do tôn giáo và sự hài hòa giữa các tín đồ giữa của những tôn giáo khác nhau. Về phần mình, như là sự diễn tả đức tin Kitô giáo về phương diện xã hội, Giáo hội có một sự độc lập thích đáng và được cấu trúc trên nền tảng đức tin của mình như là một cộng đồng mà nhà nước phải thừa nhận. Hai lĩnh vực này khác biệt nhưng luôn liên hệ với nhau…Giáo hội không thể và cũng không được đảm nhận cuộc đấu tranh chính trị để mang đến một xã hội có thể công bằng hơn. Giáo hội không thể và không được thay thế nhà nước. Nhưng Giáo hội không thể và cũng không được đứng ngoài lề trong cuộc đấu tranh cho công lý.

Thật sự có hai chủ quyền khác nhau của Thiên Chúa trên thế giới:

- Chủ quyền thiêng liêng diễn tả Nước Chúa được thực thi trực tiếp trong Chúa Kitô qua Giáo hội của Ngài.
- Chủ quyền thế tục và chính trị mà Chúa thực hiện gián tiếp qua các quyền bính thế gian.

Nhưng Xê-da và Chúa không ở cùng một cấp độ bởi vì Xê-da cũng phải phụ thuộc vào Chúa và cũng phải trả lời trước mặt Chúa. Vậy “Trả cho Xê-da những gì thuộc về Xê-da” nghĩa là: “Trả cho Xê-da những gì chính Chúa muốn được trao cho Xê-da.” Chúa thống trị trên tất cả kể cả Xê-da.

Trước khi vâng lời con người, thật sự, chúng ta phải vâng lời Thiên Chúa và lương tâm chúng ta. Đó cũng là nghĩa vụ của chúng ta phải nói với Xêda rằng hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Người. Chúng ta không thể trao cho Xêda linh hồn của chúng ta, nó luôn thuộc về Chúa.

Thánh Phaolô là người đầu tiên nhìn thấy hiệu quả của giáo huấn Đức Kitô. Ngài viết: “Mọi người hãy phục tùng chính quyền bởi vì không có quyền bính nào mà không đến từ Chúa. Ai chống lại quyền bính thì chống lại trật tự Thiên Chúa đã đặt ra… đó là lý do tại sao anh em phải nộp thuế bởi vì chính quyền chịu trách nhiệm như những người phục vụ Chúa” (Rm13,1ff.).

Đối với người Công Giáo tuân theo luật pháp là một bổn phận lương tâm. Hiển nhiên, điều này giả sử rằng nhà nước là chính đáng và công bình. Sự cộng tác của các Kitô hữu trong việc xây dựng một xã hội công bằng và an bình không loại bỏ việc tuân theo pháp luật. Sự cộng tác này mở rộng nó đến sự thăng tiến những giá trị chung như: hòa bình, liên đới với người nghèo, bảo vệ sự sống và gia đình. Kitô giáo thăng tiến cả những giá trị mà không được xếp hạng như “Công Giáo” dành cho những người Công Giáo, bởi vì những giá trị này cắm rễ sâu trong luật tự nhiên bất biến ở mọi nơi và tiềm ẩn trong phẩm giá con người.

Trong sứ điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI viết rằng: “Trong những quyền cơ bản và tự do bắt nguồn từ phẩm giá con người, tự do tôn giáo hưởng một quy chế đặc biệt. Khi tự do tôn giáo được thừa nhận thì phẩm giá con người được tôn trọng như gốc rễ của nó…Mặt khác khi tự do tôn giáo bị từ chối nhân phẩm bị chà đạp với một hệ quả đe dọa công lý và hoà bình.” Gần đây Đức Thánh Cha đã nói cụ thể hơn: Tự do tôn giáo không chỉ đơn giản là một quyền được tự do khỏi những áp chế kìm hãm bên ngoài. Nó còn là một quyền được thực sự và hoàn toàn là Công Giáo để thực hành đức tin, để xây dựng Hội thánh và đóng góp cho công ích, rao giảng Phúc Âm như Tin mừng cho tất cả mọi người.

Anh chị em thân mến chúng ta hãy dấn thân “trả cho Xê-da những gì của Xê-da, trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa.” Amen.

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Bạn có thánh thiện?

Tác giả Tiến sĩ Jeff Mirus

Chúng ta muốn nên thánh, chúng ta phải cầu nguyện và hành động đến cùng. Nhưng nếu chúng ta chân thật và tự nhận biết mình, chúng ta cũng biết mình có quyền chọn lựa những con đường dẫn đến sự thánh thiện, chọn những điều congenial nhất với tích cách của chúng ta, và tránh những gì chúng ta thấy quá mệt mỏi hoặc thậm chí không thể chịu nổi. Vậy làm sao chúng ta biết mình có phát triển trên đường thánh thiện hay không?

Người ta thường phán đoán không đúng về mình, tôi không có ý nói làm ngơ sự giúp đỡ của một người hướng dẫn tâm linh tốt. Nhưng đa số chúng ta luôn phải dựa vào sự hiểu biết của mình cả về những gì có nghĩa là thánh thiện và xem chúng ta có tiến bộ trên con đường đó không. Nói chung, nếu chúng ta thúc ép niềm tin và lòng đạo hạnh của mình được giới hạn trong phạm vi Giáo hội quy định, nếu chúng ta cầu nguyện thường xuyên, và nếu chúng ta thực sự cố gằng nhận thức những điều nhắc nhở của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ không quá sai lầm. Nhưng đôi khi chúng ta sẵn sàng “quên” một nửa những gì chúng ta kiểm tra.

Mới đây, trong số báo Homiletic & Pastoral Review (Tạp chí Giảng thuyết và Mục vụ), Lm Basil Cole có một bài với tựa đề “Đào tạo Tập sinh và Chủng sinh: 9 Dấu hiệu Phát triển Bền vững” (Formation of novices and seminarians: Nine signs of steady growth). Lm Cole, học giả Dòng Đa Minh và Bề trên có những bài viết mà tôi thấy vừa thú vị vừa hữu ích, cố gắng đưa ra một loạt các biểu hiện về phát triển tâm linh đối với người chuẩn bị tiến tới chức linh mục có thể được đánh giá. Đó là khí cụ khá tốt để đánh giá sự phát triển về sự thánh thiện, tạo các điểm điều chỉnh phù hợp đối với tình trạng mỗi người.

Đây là các hướng dẫn của Lm Cole, đơn giản hóa thành 9 câu hỏi, đưa ra các điểm chính mà chúng ta nên thành thật tìm kiếm sự phát triển liên tục:

1.    Tôi có tập trung vào Chúa? Điều này diễn tả vấn đề là chúng ta có nghĩ mình là trung tâm vũ trụ hay không, lúc đó chúng ta có thể căng thẳng, tiêu cực và chỉ trích. Chúng ta thấy có tiến bộ nếu chúng ta dễ nhìn thấy điều tốt ở người khác, vui vẻ chấp nhận sự quan phòng của Thiên Chúa, và tin tưởng Ngài ngay khi gặp thử thách và cám dỗ.

2.    Tôi có vui khi phục vụ người khác? Có nhiều khi chúng ta phải làm những điều trái ý, nhưng có lợi cho người khác. Chúng ta sẽ tiến bộ trong đức ái nếu chúng ta luôn sẵn sàng hành động, nhất là với lòng chân thành ước muốn để có lợi, nếu chúng ta vẫn ý thức và cầu nguyện ngay cả khi làm những việc mà chúng ta không thấy vui.

3.    Tôi có ghét tội? Qua thời gian, nếu chúng ta phát triển về tâm linh, chúng ta sẽ càng thấy ghét tội, dù chỉ là tội nhẹ. Chúng ta sẽ phát triển mạnh mẽ để tránh mọi thứ – kể cả những thứ vô tội theo khách quan – điều có thể là chướng ngại vật đối với việc chúng ta kết hiệp với Thiên Chúa. Dĩ nhiên chúng ta sẽ tích cực tìm kiếm các tặng phẩm và hoa trái của Chúa Thánh Thần, điều này đối nghịch với tội lỗi.

4.    Lương tâm của tôi có tinh tế? Điều này có quan hệ chặt chẽ và liên quan nhu cầu trở nên nhạy bén hơn trong việc nhận thức những gì làm mất lòng Chúa. Chẳng hạn, từ đầu chúng ta có thể muốn tránh tội ngoại tình (adultery) nhưng lại nghĩ tán tỉnh hoặc hôn vài cái thì chẳng là gì. Lúc đó, sự phát triển đòi hỏi chúng ta nhận thức rõ ràng hơn về thái độ tội lỗi. Rồi chúng ta sẽ cảnh giác tìm kiếm nhân đức, thậm chí chỉ trong tư tưởng, chúng ta cũng sẽ dễ phân biệt mức độ tội lỗi, giữa cơn cám dỗ và phạm tội.

5.    Tôi có khiêm nhường? Theo Lm Basil, cảm giác khiêm nhường nghĩa là “phục tùng những gì Thiên Chúa muốn trong lúc đó, dù điều đó không được nhận biết”. Kiêu ngạo khiến chúng ta tính toán những gì chúng ta làm, cốt để làm tăng mức tiến bộ trước mặt người đời. Nhưng Thiên Chúa muốn chúng ta tự quy phục Ngài (personal surrender to Himself) và những người thể hiện Thánh Ý Ngài mọi nơi, mọi lúc.

6.    Tôi có tin tưởng khi cầu nguyện? Nếu chúng ta muốn từ bỏ chính mình trong hoạt động, nhưng lại thấy mình không thoải mái sống riêng với Chúa trong sự tĩnh lặng của tâm hồn, chúng ta sẽ thụt lùi. Phát triển tâm linh được đánh dấu bằng việc sẵn sàng đặt mình trước mặt Chúa, dù chúng ta khô khan hoặc chia trí khi cầu nguyện.

7.    Quyết định của tôi có phản ánh sự thật và khôn ngoan? Khi phát triển về tâm linh, chúng ta sẽ “thông thạo” hơn trong việc tìm kiếm lời khuyên, chúng ta cũng sẽ thêm khả năng tư vấn cho người khác, hoặc hành động mau mắn và chắc chắn. Chúng ta cũng sẽ phát triển về khả năng đánh giá mỗi tình huống đúng đắn, áp dụng các nhân đức đúng và giải quyết đúng đối với mỗi thử thách.
8.    Tâm hồn tôi có bị phân chia? Nói đơn giản, vấn đề này đòi hỏi chúng ta có quan tâm nhiều và gắn bó với lòng khao khát Chúa hay không, hoặc chúng ta có phát triển cách đánh giá những điều tốt qua Thiên Chúa và nhờ Thiên Chúa hay không, qua mối quan hệ riêng với Ngài. Đặc biệt với những điều chúng ta thích, chúng ta sẽ cầu nguyện và hành động trong ánh sáng của Chúa Kitô.

9.    Tôi có yêu mến giáo hội? Theo Lm Basil, “Giáo hội là Hiền thê tinh tuyền của Chúa Kitô mà Ngài đã trao ban chính Ngài và hồng ân cho những người bất toàn cần được thanh luyện và nhận thức tội lỗi”. Hằng ngày và mọi lúc, chúng ta sẽ cảm thấy yêu mến Giáo hội nhiều hơn bằng cả tâm hồn, dù Giáo hội vẫn còn những hoen ố trần tục. Nếu vậy, đó là dấu hiệu chắc chắn chúng ta đang tiến bộ trên đường thánh thiện.

Với tôi, điều này có vẻ những điểm tuyệt vời về việc tự đánh giá. Mỗi điểm là một khí cụ đối với việc phát triển đúng đắn. Quá trình trong mỗi điểm là chủ yếu nếu chúng ta mở rộng khả năng tối đa mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta để kết hiệp với Ngài.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ CatholicCulture.org)

Nguồn: thanhlinh.net