Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Xin Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt tha thứ!


Hà Văn Thịnh
Bauxite Việt Nam xin đăng bài viết dưới đây của cộng tác viên quen biết Hà Văn Thịnh, như một một lời bộc bạch riêng tư gửi đến TGM Ngô Quang Kiệt, đồng thời cũng là một tiếng nói tâm tình của cá nhân tác giả với bạn đọc xa gần, để mong được bạn đọc lượng thứ, về một việc làm không phải trước đây của mình. Xin hết sức hoan nghênh thái độ thực sự cầu thị của người đồng nghiệp và cầu mong cho anh mọi điều tốt lành.
Bauxite Việt Nam


Hôm nay (27.9.2011), đọc - nghe từ ABS (blog Anh Ba Sàm), tôi được biết những gì mình viết về TGM ngày nào (đăng trên báo Lao động, nhan đề Đáng rủa sả thay) là một sai lầm  và, ở mức độ nào đó, có thể coi là một tội ác khó có thể biện minh. Tôi muốn cầu xin một sự thứ tha nhưng chắc chắn rằng sự day dứt của lương tâm thì chẳng thể nào nguôi ngoai được..

Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt: Sám hối là khởi điểmQua đây, cũng xin nói cho rõ “vụ” này. Hồi ấy, tôi là cộng tác viên thường xuyên của báo Lao động. Viết với đam mê và trách nhiệm thực sự của nghĩ suy là mình luôn bảo vệ cái đúng, chống lại những điều sai (ấu trĩ, ngây ngô, ngu dốt...; để cho độc giả và quý vị xa gần phán xét, mặc nhiên tôi không phàn nàn hay khiếu nại). Một lần, tôi nhận được điện thoại của ông Tô Quang Phán, Phó TBT (nay là Tổng BT Hà Nội mới), nói rằng Tổng GM Ngô Quang Kiệt tuyên bố cầm hộ chiếu Việt Nam thấy nhục nhã, hãy viết ngay một bài bình luận về sự kiện trên...

Nhận được lệnh, với thông tin 8 chữ, tôi viết liền cho kịp bài báo để mai đăng, sau khi đã đọc lại toàn bộ Kinh Thánh. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu nổi, vì sao chỉ sau có mấy tiếng đồng hồ, vừa đọc Kinh Thánh lại vừa viết ra được bài báo tổng hòa và tận cùng của nỗi đau, sự xấu hổ mà không hề có một thoáng mảy may băn khoăn về chuyện đúng, sai? Xem ra, sự đui dốt, thỏa thuê khó tìm thấy giới hạn.


Bây giờ, tôi biết tôi xứng đáng bị rủa sả bởi những lời tàn tệ. Tôi viết bài này để xin một sự thứ tha, chắc rằng Chúa Nhân Từ sẽ tha thứ cho tôi, coi như đó là một tai nạn của lỗi lầm và xuẩn ngốc; nhưng, những bạn đọc yêu mến sự thật và công lý thì chẳng thế, bao giờ...

Điều còn lại sau lời cầu xin này nó dài lắm và khủng khiếp lắm. Tôi đã gần như mất hết niềm tin bởi những gì mà những người có quyền lực đang gieo rắc các nỗi đau có tên gọi khác nhau nhưng giống nhau về bản chất trên khắp đất nước. Được bốn chục tỷ đồng để bay tà tà rồi ngủ yên trong hai lá đơn từ chức, ai cũng muốn như thế, kể cả tôi. Nếu “lừa đảo” hàng chục tỷ đồng dễ hơn húp cháo thì cái “cơ chế” đó là cơ chế gì? Cả Kế toán trưởng của Cục Điện ảnh và Vinashin đều đào tẩu xong rồi mới nghe thấy phát lệnh truy nã trong khi ai cũng biết, nếu thật sự muốn theo dõi – giữ – bắt những tội phạm cỡ ấy, việc trốn thoát còn khó hơn cả lên giời!...

Tôi biết tin vào ai khi những điều sai hầu như đều có bệ đỡ hiệu quả, rỡ ràng? Tôi đã như một kẻ đui mù thách đấu với Tổng GM Ngô Quang Kiệt chỉ bằng cái sinh tử lệnh có 8 chữ, tức là bằng đúng một nửa của 16 chữ vàng cắt dán! Lỗi lầm và đau xót đang được đo bằng sự xa xót ê chề. Tôi chỉ còn biết sùng kính ngước nhìn lên và nói tới hai chữ: Cầu Xin! 

Huế, 28.9.2011.

H.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

 Lời phát biểu đầy đủ của Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt


*

"Đáng rủa sả thay"!

(LĐ) - Việc ông Tổng Giám mục giáo phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt tuyên bố: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam", đã làm cho dư luận vô cùng bức xúc.

Khó có thể cắt nghĩa được việc một vị Tổng Giám mục có học vấn, có địa vị đáng trọng, lại nói về Tổ quốc của chính mình như vậy!

Vì việc làm vi phạm của mình không được chính quyền đáp ứng rồi mượn cớ đó để thoá mạ quê hương là điều không thể chấp nhận được. Những tranh chấp giữa giáo phận Hà Nội về chuyện quyền sở hữu là điều đã và đang được luật pháp phân xử. Đó là chưa nói chuyện đất đai xưa kia của Nhà Chung được Nhà nước chuyển sang làm công trình công ích thì cũng đều là phụng sự ý Chúa.

Trong khi đó, chính quyền đã tạo điều kiện để giáo phận Hà Nội có đám đất rộng rãi khác để xây dựng công trình phục vụ giáo dân, nhưng ông Ngô Quang Kiệt không nhận. Suy cho cùng, tất cả lý tưởng và mục đích thiêng liêng nhất đều nhằm mưu cầu lợi ích cho tất cả mọi người. Từ sự khúc mắc đó mà ông Tổng Giám mục phỉ báng dân tộc thì quả là không tài nào hiểu nổi.

Tổ quốc là Đất mẹ của mỗi người. Không ai có thể lựa chọn được mẹ hay cha cũng như không thể chọn được mảnh đất mà mỗi người đã được chính Thượng đế an bài. Câu mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ đã khẳng định rằng "Tất cả mọi người đều được Đấng Sáng tạo (Đức Chúa trời) sáng tạo ra một cách bình đẳng" (Every men are created - by The Creator - equal).

Còn trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là CHXHCNVN) cũng khẳng định: "Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được".

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi soạn bản tuyên ngôn bất hủ đã mặc định rất hiển nhiên sự tôn trọng tôn giáo của Nhà nước Việt Nam mới. Không một ai có thể chối bỏ lẽ phải đó, cũng như không ai có thể vu khống và bịa đặt về sự kỳ thị tôn giáo của Nhà nước Việt Nam XHCN.

Mặt khác, nếu lật lại toàn bộ quá trình gây rối, làm mất trật tự, chiếm đất đai trái phép, thờ tự vô nguyên tắc trái với Kinh Thánh ở 178 Nguyễn Lương Bằng và khu vực gần Nhà Chung (Hà Nội) thì sẽ thấy rất rõ ông Ngô Quang Kiệt là người chủ mưu, cố tình gây chia rẽ, làm mất sự ổn định của công cuộc phát triển của đất nước. Bất kỳ ai đi theo cách làm đó cũng là đi ngược lại ước mong và lợi ích của 86 triệu người dân Việt Nam, trong đó có tất cả những giáo dân chân chính kính Chúa yêu nước!

Về tình cảm, làm thế nào có thể chấp nhận nổi một người "nhục nhã" về dân tộc mình, về mảnh đất đã sinh ra và nuôi dưỡng mình? Cựu Ước, phần Phục truyền Luật lệ ký, 27-28 (NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2002, tr. 190) viết rằng: Đáng rủa sả thay kẻ nào dời mộc giới của kẻ lân cận mình. Chúa trời chẳng bao giờ đồng tình với cách bao chiếm đất đai của kẻ khác, huống hồ chi là đất đai của một công trình công ích mà không ai là không được hưởng lợi.

Việt Nam trong thế kỷ XX là một trong những điểm sáng rực rỡ nhất của lịch sử dân tộc. Hàng ngàn năm, đất nước hình chữ S gầy guộc bị nhiều quốc gia xâm lược muốn đè bẹp, nhưng không thể khuất phục nổi, không thể bẻ gãy nổi. Là công dân Việt Nam, phải rất tự hào về dân tộc mình mới là hợp đạo. Tại sao Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt lại phải "nhục nhã" với tiên tổ và mảnh đất máu thịt của chính mình?

Có lẽ rất cần phải trích dẫn lại một đoạn trong kinh Cựu ước để những ai đó đang khinh bỉ dân tộc mình suy ngẫm lại: Đáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình! Cả dân sự phải đáp: A - men! (sic).

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012

Mồng 2 Tết: Báo hiếu cha mẹ

Tình cảm cha con1. Con ra đời có mẹ cha, là trời cao, biển lớn bao la. Từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà, con là nụ hoa bé nhỏ trong nhà. Nhờ công cha, nhờ nghĩa mẹ, con khôn lớn trong muôn lời ca.


ĐK: Xin ơn trên đổ xuống muôn nhà, giúp mẹ cha ngày tháng an hoà bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa. Xin cho con ở giữa gia đình, sống làm sao đền đáp ân tình, ơn biển trời ghi khắc trong tim.


2. “Nuôi con bằng sữa tình yêu và dạy con bằng tiếng thương yêu. Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ, con nhờ mẹ cha mới trở nên người. Bàn tay cha, dòng sữa mẹ, con ghi nhớ không bao giờ quên.” 

                             Bài liên quan: Ngày bố mẹ già đi

Lời của bài Ơn nghĩa sinh thành mà chúng ta vẫn thường hát trong ngày mồng 2 tết mang tâm tình biết ơn cha mẹ. 


Con người chúng ta không phải từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất mọc lên. Tất cả mọi người có mặt trên trái đất này đều do cha mẹ sinh ra, do cha mẹ nuôi lớn. Đó chính là ơn nghĩa sinh thành và dưỡng dục. “Cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ có tông: có cha có me,  có ông có bà”.
Thánh Augutino đã nói về sự lưu truyền các thế hệ một cách hình tượng như thế này: "Các thế hệ loài người trên mặt đất cũng giống như những chiếc lá trên cành cây. Trái đất mang những con người, như cây mang những chiếc lá. Trái đất đầy dẫy những con người kế tiếp nhau, người này chào đời, trong khi người kia vẫy tay giã biệt. Cây không bao giờ cởi bỏ bộ áo màu xanh của mình, nhưng xin hãy nhìn xuống gốc cây: các bạn đang đạp trên một tấm thảm đầy những chiếc lá khô mục" (Enarratio in Psalmum 101).
Những chiếc lá khô mục là hình ảnh rất ấn tượng để nói lên sự hy sinh tận tụy của cha mẹ, giờ đây đã trở nên như những chiếc lá khô mục cho thế hệ cháu con xanh tươi. Khi cho rước lễ, tôi nhìn thấy những bàn tay khô ráp, sần sùi, chai sạn… Điều đó diễn tả nổi vất vả, nhọc nhằn của những bậc cha mẹ.
Nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục, mời gọi tất cả chúng ta phải biết sống hiếu thảo, vâng lời, giúp đỡ cha mẹ lúc còn sống và cầu nguyện cho các ngài khi cha mẹ đã qua đời. Trong thánh lễ hằng ngày, luôn luôn có lời cầu nguyện cho các bậc tổ tiên, ông bà cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng ta đã qua đời. Vì thế tham dự thánh lễ hằng ngày là cách tốt nhất để kính nhớ ông bà tổ tiên. Chắc chắn là chúng không thể đền đáp đủ công ơn cha mẹ; nhưng điều mà ai cũng có thể làm được là đừng làm cho cha mẹ đau buồn, bằng việc nghe lời cha mẹ và sống một cuộc đời tử tế nên người.
“Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha. Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ, mây trời lồng lộng không phủ kín công cha. Tần tảo sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn, mang cả tấm thân gầy cha che chở đời con. Ai còn mẹ, xin đừng làm mẹ khóc. Đừng để buồn trên mắt mẹ nghe không”.
Ở đây, tôi cần lưu ý với anh chị rằng: báo hiếu cha mẹ, theo nghĩa đầy đủ, là biết ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ chúng ta: đó là cha xứ, thầy cô, những người chăm sóc dạy dỗ ta, bà con láng giềng, bạn bè ... 


Những người đi làm ăn, các bạn sinh viên đi học xa nhà nhớ về quê hương cũng là nhớ về cội nguồn của mình. Quê hương đó có cha mẹ, anh chị em, bà con, láng giềng, người thân và bạn bè. Quê hương là chùm khế ngọt, quê hương là tiếng chuông nhà thờ, quê hương là con đê, là lối đi về... Sau đây là tâm tình của một người xa quê đáng cho chúng ta suy gẫm:
Tôi về nơi ấy quê hương
Tiếng chuông vọng về nỗi nhớ.
Nghẹn ngào trong tim cái thuở
Trăng lên dưới bóng nhà thờ.

Tôi về nơi ấy tuổi thơ
Có con cào cào mắt trố,
Cánh chuồn mỏng như hơi thở
Đua nhau đuổi nắng quanh bà.

Vẫn con đường rợp bóng tre
Mùa thu nhuốm vàng ngọn lá.
Con bò nhà ai lặng lẽ
Nằm nhai lại cả nhọc nhằn.

Có người đi cả tháng năm
Có người ra thành thị ở.
Trăm năm vẫn hồi chuông đổ
Đêm đêm vọng mãi trong hồn.

Một người đi xa mà lúc nào cũng nhớ đến tiếng chuông nhà thờ thì không bao giờ người đó có thể hư hỏng được.

Ngày đầu năm, một cơ hội tốt để chúng ta tỏ lòng hiếu thảo với các bậc tổ tiên như: thăm viếng, chúc tết, giúp đỡ hoặc xin lễ cầu nguyện cho những người đã khuất. Tất cả đều là những nghĩa cử cần thiết, không thể thiếu được, khi chúng ta đã dành những ngày đầu năm này để nghĩ đến những người thân yêu của mình, để cầu mong ân lộc của những bậc tiền bối luôn che chở, độ trì cho chúng ta trong năm mới. Nhớ đến công lao sinh thành dưỡng dục của các ngài, chúng ta tỏ lòng biết ơn các ngài và nguyện sẽ tiếp tục sự nghiệp còn dang dỡ của các ngài, lo vun trồng tươi tốt những cây non là các thế hệ đến sau, để cho cây nhân sinh của dòng họ ta mãi mãi xanh tươi và đơm nhiều hoa trái, đóng góp với sự tốt tươi chung của Giáo hội và xã hội.

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Tuyển tập những câu đối Tết hay, đặc sắc, ý nghĩa


1. “Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ
Xuân mãn càng khôn, phúc mãn đường”
(Trời thêm tuổi mới, năm thêm thọ
Xuân khắp càn khôn, phúc khắp nhà)
Hãy cùng chia sẻ với người thân của bạn những câu đối hay về dịp Tết
2. “Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương đưa quỷ tới,
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào”

3. “Chiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa,
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà"
4.  “Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu
Ủa ! Tết !
Sáng mồng một, lắng tai nghe lời chúc
Ồ ! Xuân !”
5. “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”
6. Phước thâm tự hải (hạnh phúc nhiều sâu như biển)
Lộc cao như sơn (của cải nhiều cao như núi)
7. Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân
8. Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ
Nhân bách hạnh hiếu vi tiên.
(Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa Xuân;
Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết.)
8. Xuân tha hương, nhấp giọt rượu sầu, nhớ vòm trời đất nước!
Tết xứ người, hớp ngụm cafe đắng, thương mảnh đất quê nhà!)
9. Tân niên hạnh phúc bình an tiến
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai
(Năm mới hạnh phúc bình an đến
Ngày Xuân vinh hoa phú quý về)
10. Ðuột trời ngất một cây nêu, tối ba mươi ri là Tết
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa cũng Xuân
11. Ðấp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng,
Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm.
12. Tối ba mươi, nợ réo tít mù, ấy mới Tết,
Sáng mồng một, rượi tràn quí tị, ái chà Xuân.

Nguyễn Tiến (Tổng hợp) 

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

Cộng hòa Czech bồi thường giáo hội về đất đai

Chính phủ cũng cam kết chi trả độ 3 tỉ đôla cho 17 tổ chức tôn giáo

Chính phủ Cộng hòa Czech đã phê chuẩn dự luật bồi thường cho các giáo hội về các tài sản bị trưng thu bởi chế độ cộng sản đã lãnh đạo nước Tiệp Khắc cũ trong 40 năm sau thế chiến thứ Hai.

Thủ tướng Petr Necas cho biết chuyện bồi thường này đã được chính phủ nhất trí thông qua hôm thứ Tư.

Ông nói: “Đây là luật quan trọng, giúp giải quyết vấn đề đã nằm chờ một giải pháp từ 20 năm qua.”

Cánh trung hữu lúc đầu dọa chống lại dự luật này vì cho rằng quá tốn kém, nhưng cuối cùng phải chiều theo áp lực của Thủ tướng.

Chiếu theo dự luật, các giáo hội sẽ nhận lại 56% tài sản bị chế độ cộng sản cũ tịch thu, chế độ này bị lật đổ năm 1989 bằng một cuộc cách mạng không đổ máu, 4 năm trước khi Tiệp Khắc tách làm hai nước Cộng hòa Czech và Slovakia.

Chính phủ cũng cam kết chi trả độ 3 tỉ đôla cho 17 tổ chức tôn giáo, trong đó có giáo hội Công giáo. Số tiền sẽ được thanh toán hằng năm trong vòng 30 năm, và sẽ điều chỉnh với lạm phát.

Dự luật vẫn phải được phê chuẩn tại Quốc hội, nơi mà phe của Thủ tướng Necas có đa số.


VOA1/12/2012

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

Thủ tục và nghi lễ hôn phối

"Ta hãy vui mừng hoan hỉ, hãy tôn vinh Chúa! Vì này đã đến rồi, tiệc cưới Chiên Con,  và hiền thê của Ngài đã trang điểm sẵn sàng. Và nàng được mặc trúc bâu rạng ngời tinh sạch" (Kh 19,7-8).


Tự bản chất, hôn nhân mang tính xã hội, vì nối kết đôi bạn trước mặt gia đình, bạn bè, cũng như trước mặt toàn thể xã hội. Chính vì thế, xã hội nào cũng có những quy định về cưới hỏi, tạo nên những phong tục, tập quán riêng.
Đối với Kitô giáo, hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh và đã được Đức Kitô nâng lên hàng bí tích. Bởi vậy, đối với bí tích Hôn phối, Hội Thánh cũng có những thủ tục và lễ nghi nhằm diễn tả bản chất đích thực của giao ước hôn nhân, đồng thời giúp đôi tân hôn đón nhận dồi dào ơn sủng do bí tích Hôn phối mang lại.
Là Kitô hữu Việt Nam, khi tổ chức hôn lễ, chúng ta cần diễn tả đức tin theo nét văn hoá truyền thống của mình.



1. Các thủ tục và nghi lễ dân sự

1.1. Các thủ tục về mặt dân luật
Đăng ký kết hôn: tại Ủy ban Nhân dân, nơi đang cư trú (xã, phường, thị trấn) của một trong hai bên kết hôn (x. Luật Hôn nhân và Gia đình điều 11-12).
Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật, cơ quan hữu trách sẽ kiểm tra hồ sơ; nếu xét thấy hai bên có đủ điều kiện thì sẽ tổ chức đăng ký kết hôn (Luật Hôn nhân và Gia đình điều 13 §1).
Tổ chức đăng ký kết hôn: Khi tổ chức đăng ý kết hôn phải có mặt hai bên nam nữ. Đại diện cơ quan yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý, thì sẽ trao Giấy chứng nhận kết hôn (Luật Hôn nhân và Gia đình điều 14).
1.2. Các nghi lễ theo truyền thống Việt Nam
Nghi lễ cưới hỏi của Việt Nam chịu ảnh hưởng khá nhiều văn hoá Trung Quốc. Theo sách xưa, việc hôn nhân gồm có: Nạp thái, Vấn danh, Nạp cát, Nạp tệ, Thỉnh kỳ, Thân nghinh (x. Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hoá Sử Cương (tái bản), Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, trang 215). Ngày nay, các lễ trên đã được đơn giản hoá và thu gọn vào trong ba lễ sau:
1.2.1. Lễ dạm hay chạm ngõ
Trước đây, việc hôn nhân là do cha mẹ ấn định qua người mai mối (ông mai bà mai), nên nhiều đôi trai gái không hề biết nhau. Lễ “chạm ngõ” là để chàng trai xem mặt cô gái, và cũng để cô gái thấy mặt chàng trai của mình. Đây cũng là dịp để gia đình hai bên chính thức xác nhận việc mai mối của ông mai bà mai.
Lễ dạm là nghi thức đầu tiên, sau khi đôi trai gái yêu nhau và được cha mẹ hai bên đồng ý. Dạm là ướm hỏi xem có ưng thuận không. Gia đình hai bên gặp nhau để xin cho đôi trai gái được chính thức đi lại tìm hiểu nhau. Nghi thức này thường được tổ chức giới hạn trong gia đình hai bên. Tuy nhiên, ngày nay nhiều nơi đã bỏ lễ này, chỉ còn giữ lễ đính hôn và lễ cưới.
1.2.2. Lễ đính hôn (hay lễ hỏi, đám nói hay đám hỏi)
Sau thời gian tìm hiểu, bên nhà trai mang lễ vật đến nhà gái chính thức xin cầu hôn. Lễ hỏi thường gồm trầu cau, rượu, chè (trà) và bánh trái. Tất cả được đựng trong hộp màu đỏ hoặc gói giấy đỏ vì màu đỏ chỉ sự vui mừng.
Những lễ vật của nhà trai mang tới được nhà gái đặt một ít lên bàn thờ gia tiên. Lễ xong, bánh trái, trầu cau, chè được nhà gái “lại quả” cho nhà trai một ít, còn lại nhà gái dùng để chia cho họ hàng, thân quyến. Mục đích của việc chia bánh trái, biếu trầu cau là để báo tin cho họ hàng bạn bè nhà gái biết con gái mình đã đính hôn.
1.2.3. Lễ cưới (trai thì Thành Hôn, gái thì Vu Quy)
Lễ Vu Quy:
Lễ cưới cử hành tại nhà gái được gọi là Lễ Vu Quy, tức là lễ cho con gái về nhà chồng. Trước đây, lễ này còn được gọi là lễ nghênh thân hay lễ nghênh hôn, vì trong lễ này chú rể phải tới nhà bố mẹ vợ để đón cô dâu. Bởi vậy, lễ nghênh thân còn được gọi là lễ đón dâu. Nhà trai đem lễ vật đến đặt trước bàn thờ. Nhà gái kiểm lại xem có đầy đủ như đã thỏa thuận không. Sau khi công nhận đầy đủ, thì cho thắp đèn trên bàn thờ để chú rể và cô dâu làm lễ gia tiên.
Chú rể lạy bốn lạy trước bàn thờ để trình diện gia tiên, tiếp đến cô dâu lạy để xin phép xuất giá. Sau đó, chú rể và cô dâu lạy ông bà, cha mẹ, cô dì, cậu mợ, chú bác, và họ hàng nhà gái. Đây cũng là lúc cha mẹ và những người trong thân tộc nhà gái tặng tiền hay quà cho dâu rể mới. Tiếp đến là tiệc mặn hay lạt. Cuối tiệc, trước khi cho đón dâu về nhà chồng, đại diện nhà gái gởi gắm cô dâu cho nhà trai, xin nhà trai đón nhận người con dâu vào trong gia đình và chỉ giáo thêm.
Tại Nam Bộ, Lễ Vu Quy được tổ chức long trọng ngày hôm trước lễ cưới. Trong lễ này, nhà gái mời tất cả thân tộc nội ngoại và cô dâu mời bạn bè dự tiệc. Thường chú rể cũng phải đến trong bữa tiệc này để trình diện dòng họ nhà gái. Tối hôm trước ngày cưới, thường có nghi lễ xuất giá rất cảm động, cô dâu lạy bàn thờ tổ tiên, rồi ông bà, cha mẹ, những người thân trong gia đình. Lúc này, những người trong thân tộc tặng quà, tiền cho cô dâu.
- Lễ Thành Hôn:
Lễ cưới được tổ chức tại nhà trai gọi là lễ rước dâu. Đây mới chính là lễ Thành Hôn.
Đoàn rước về đến nhà trai, cô dâu được đưa đến trước bàn thờ để làm nghi lễ thành hôn. Nghi thức nổi bật nhất là đốt đèn trên bàn thờ gia tiên. Sau đó cô dâu lạy ông bà, cha mẹ chồng, chào những người trong dòng họ nhà chồng. Lúc này, những người trong thân quyến bên chồng sẽ tặng quà, tiền. Sau đó là nhập tiệc.
Cuối tiệc, đại diện nhà gái gởi gắm cô dâu cho nhà trai, và nhà trai giã từ nhà gái.

2. Các thủ tục và nghi lễ tôn giáo

2.1. Các thủ tục theo giáo luật
Các thủ tục của Hội Thánh có mục đích bảo đảm những điều kiện trên, giúp đôi bạn cử hành Bí tích Hôn phối được thành sự.
Chuẩn bị: Khi có ý định tiến tới hôn nhân, hai bên nam nữ cần đến gặp cha xứ (thường là cha xứ bên nữ, cũng có thể gặp cha xứ bên nam).
Cha xứ sẽ trao đổi và giúp anh chị làm tờ khai hôn phối, để biết anh chị có đúng là Kitô hữu không (đã Rửa tội, Rước lễ và Thêm sức chưa), có hiểu rõ ý nghĩa của hôn nhân Kitô giáo, có biết rõ nhiệm vụ của vợ chồng và cha mẹ Kitô hữu không (x. GL 1063; 1067). Ngài sẽ giúp anh chị học hoặc ôn lại giáo lý hôn nhân cũng như cách sống đức tin trong đời sống hôn nhân và gia đình (x. CBHP 50-51). Việc chuẩn bị này là điều rất quan trọng để lời cam kết của hai anh chị trở thành một hành vi tự do và có trách nhiệm, cũng như hôn ước của anh chị có được nền tảng tự nhiên và siêu nhiên, vững chắc và lâu dài (GLHT 1632).
Để giúp anh chị kết hôn thành sự và hợp pháp theo như luật của Hội Thánh quy định, ngài cũng cần phải biết chắc hai anh chị không bị mắc ngăn trở nào (x. GL 1066). Nếu có, ngài sẽ giúp anh chị giải quyết. Ngoài ra, anh chị cũng cần được hướng dẫn để hiểu rõ ý nghĩa các nghi thức khi cử hành bí tích Hôn phối (x. CBHP 52).
- Nếu anh hoặc chị thuộc một giáo xứ khác thì phải trình giấy chứng nhận Rửa tội và Thêm sức. Việc chịu phép Rửa tội là cần thiết để lãnh nhận thành sự bí tích Hôn phối. Còn đối với bí tích Thêm sức, luật Hội Thánh quy định: “Người Công giáo nếu chưa Thêm sức, phải lãnh nhận bí tích này trước khi kết hôn (GL 1065 §1). Bí tích Thêm sức giúp củng cố và làm tăng trưởng đức tin trong đời sống vợ chồng và của con cái sau này. Riêng đối với bí tích Giao hoà và Thánh Thể, Hội Thánh khuyên: “Để lãnh nhận bí tích Hôn phối cho có kết quả, hết sức khuyên đôi vợ chồng lãnh nhận các bí tích Giao hoà và Thánh Thể (GL 1065 §2; GLHT 1622).”
Rao hôn phối (GL 1067): Sau khi học hỏi giáo lý hôn nhân xong, nếu hai bên quyết định dứt khoát kết hôn, thì trình cho cha xứ bên gái biết. Ngài sẽ làm lời rao hôn phối và rao trong ba Chúa nhật ở giáo xứ của mỗi bên.
Việc rao hôn phối tại mỗi xứ nhằm để cho mọi người trong cộng đoàn biết, thêm lời cầu nguyện và xem xét có gì ngăn trở thì giải quyết trước hoặc trình báo với cha xứ, đồng thời cũng để ấn định lễ cưới (GL 1063-1070).
Sau cùng, anh chị cũng cần nhớ: trước khi làm lễ cưới ở nhà thờ, anh chị phải hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn theo dân luật.
Cử hành bí tích Hôn phối
Địa điểm: tại nhà thờ giáo xứ của bên nữ hoặc bên nam. Nếu cử hành tại một nhà thờ khác hay một nhà nguyện, cần có phép của cha xứ (GL 1115; 1118).
Nhân chứng: cần có 2 người làm chứng (GL 1108).
Chứng hôn: Người chứng hôn là người hiện diện để đòi hỏi hai bên kết ước bày tỏ sự ưng thuận lấy nhau và nhân danh Hội Thánh đón nhận sự bày tỏ ấy. Bình thường, cha xứ là người chứng hôn (GL 1108-1110). Ngài có thể uỷ quyền cho các linh mục khác, hoặc phó tế chứng hôn (GL 1108; 1111). Nơi nào thiếu linh mục và phó tế, Đức Giám mục giáo phận có thể uỷ quyền chứng hôn cho một giáo dân xứng hợp (GL 1112).
Ghi sổ: Sau khi cử hành bí tích Hôn phối, đôi tân hôn, vị chứng hôn và hai người làm chứng ký tên vào Sổ Hôn phối (GL 1121). Sau đó ghi việc kết hôn vào sổ rửa tội của đôi tân hôn (GL 1122).
2.2. Nghi thức bí tích Hôn phối
“Vì các bí tích đều liên quan trực tiếp đến Bí tích Thánh Thể nên bình thường Bí tích Hôn phối phải được cử hành trong Thánh lễ” (GĐ 57). “Trong thánh lễ, chúng ta tưởng niệm Giao Ước mới, trong đó Đức Kitô kết hiệp vĩnh viễn với Hội Thánh là Hiền Thê được Ngài yêu mến và hiến thân để thánh hoá. Do đó, bí tích Hôn phối được cử hành trong thánh lễ thật là thích hợp: đôi hôn phối bày tỏ sự ưng thuận hiến thân cho nhau bằng việc liên kết với Đức Kitô hiến thân cho Hội Thánh, đều được hiện tại hoá trong thánh lễ, và bằng việc rước lễ để nhờ kết hợp với Mình và Máu Đức Kitô, họ “trở thành một thân thể” trong Ngài (GLHT 1621).”
Nghi thức hôn phối được bắt đầu sau bài Phúc âm và bài giảng, gồm ba phần:
1. Phần một: Thẩm vấn đôi tân hôn
Chủ tế lần lượt hỏi cô dâu và chú rể ba câu hỏi về sự tự do, về việc yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời và về việc đón nhận con cái. Những câu hỏi này nhằm giúp đôi tân hôn chính thức xác nhận trước mặt mọi người rằng họ thực sự ý thức và trưởng thành khi quyết định kết hôn, nghĩa là có sự tự do để lấy nhau, chấp nhận ý nghĩa và mục đích của hôn nhân là yêu thương và chung thủy với nhau, sẵn sàng đón nhận và giáo dục con cái.
2. Phần hai: Trao đổi lời thề hứa
Đây là phần chủ yếu của bí tích Hôn phối. Đôi tân hôn sẽ trao đổi lời thề hứa nhận nhau làm vợ làm chồng và cam kết trung thành với nhau suốt đời.
3. Phần ba: Làm phép và trao nhẫn cưới
Chủ tế làm phép nhẫn, sau đó anh chị trao nhẫn cho nhau, như dấu chỉ của tình yêu và lòng trung thành. Tiếp đến, đôi tân hôn, hai người chứng và linh mục cùng ký tên vào Sổ Hôn phối. Sổ này được lưu trong văn khố của giáo xứ. Việc ký tên này cũng có thể được thực hiện sau thánh lễ.
Nghi thức Hôn phối kết thúc. Thánh lễ tiếp tục. Sau kinh Lạy Cha có một lời nguyện đặc biệt cầu cho đôi tân hôn. Hội Thánh khẩn cầu Chúa ban đầy ân sủng và phúc lộc cho đôi tân hôn để bản thân họ được thánh thiện và hạnh phúc, gia đình họ được hòa thuận và bền vững. Hội Thánh cũng nguyện xin ơn Thánh Thần cho họ vì “Chúa Thánh Thần là dấu ấn hôn ước của họ, là nguồn mạch tình yêu của họ, là sức mạnh giúp họ chung thuỷ (GL 1624).”
Các bài đọc Kinh Thánh được chọn riêng cho lễ Hôn phối xoay quanh ba ý chính:
- Mục đích, ý nghĩa, bản chất của tình yêu và hôn nhân Kitô giáo.
- Những con người mẫu mực trong đời sống hôn nhân và gia đình.
- Bổn phận và trách nhiệm của vợ chồng, cha mẹ, con cái trong đời sống hôn nhân và gia đình.
Đối với việc công bố Lời Chúa (đọc bài đọc 1 và 2), nên chọn trong số những người thân thuộc của đôi tân hôn, chẳng hạn như người làm chứng, anh chị em trong gia đình hoặc bè bạn. Lúc này, đôi tân hôn trước tiên phải là những người lắng nghe và đón nhận Lời Chúa đang công bố cho mình (CBHP 68).

4 GHI NHỚ :

1. H. Khi quyết định tiến tới hôn nhân, đôi bạn cần làm những thủ tục nào?
T. Khi quyết định tiến tới hôn nhân, đôi bạn cần trình cha xứ để làm những việc này:
- Một là làm tờ khai hôn phối.
- Hai là được hướng dẫn về giáo lý hôn nhân.
- Ba là rao hôn phối.
- Bốn là quyết định ngày cử hành hôn lễ.
2. H. Về mặt dân sự, cần làm thủ tục nào?
T. Về mặt dân sự, cần đăng ký kết hôn tại Uỷ ban Nhân Dân Phường hoặc Xã nơi cư ngụ.
3. H. Vì sao Hội Thánh buộc các tín hữu cử hành hôn phối theo nghi thức của Hội Thánh?
T. Hội Thánh buộc các tín hữu cử hành hôn phối theo nghi thức của Hội Thánh vì bốn lý do này:
- Một là vì Bí tích Hôn phối là hành vi phụng vu.
- Hai là vì Hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh.
- Ba là vì cần phải có sự chắc chắén về sự kết hôn nên buộc phải có người làm chứng.
- Bốn là vì việc công khai bày tỏ sự ưng thuận sẽ giúp hai vợ chồng sống chung thuỷ với nhau.
4. H. Nghi thức bí tích hôn phối gồm mấy phần?
T. Nghi thức Bí tích Hôn phối gồm ba phần:
- Một là thẩm vấn đôi hôn phối về sự tự do, về việc yêu thương và tôn trọng nhau và về việc đón nhận con cái Chúa ban.
- Hai là trao đổi lời thề hứa.
- Ba là làm phép và trao nhẫn cưới.

GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Xin anh chị đọc và chia sẻ với nhau lời thề hứa mà anh chị sẽ trao đổi với nhau:
“Tôi là T., nhận anh /em T. làm chồng / vợ của em /anh, và hứa giữ lòng chung thủy với anh (em), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng anh (em) suốt đời tôi”.
2. Xin anh chị đọc lại lời cầu nguyện cho đôi tân hôn trong Thánh lễ (sau Kinh Lạy Cha). Hội Thánh cầu nguyện cho họ những gì? Anh chị sẽ cố gắng thực hiện những điều đó trong đời sống hôn nhân và gia đình của mình như thế nào?

CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa, khi tạo dựng loài người có nam có nữ, Chúa đã muốn cho cả hai nên một. Xin Chúa thương tuôn đổ ơn phúc dồi dào trên các đôi vợ chồng, giúp họ sống trọn tình vẹn nghĩa với nhau và biết mở rộng tình yêu thương đến mọi người, để làm chứng cho tình yêu thương vô biên của Chúa. Amen.

Trích Giáo lý Hôn nhân và Gia đình của HDGM Việt Nam